Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/02/2005
Một số giải pháp thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước


Đồng chí Phó Chủ nhiệm Bế Trường Thành trao đổi với đồng bào về giữ gìn các hoạt động văn hoá dân tộc

Việt Nam là một trong những quốc gia đa dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, cộng đồng các dân tộc luôn kề vai sát cánh, gắn bó máu thịt bên nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, thiên tai địch hoạ và dựng xây đất nước. Cộng đồng các dân tộc Việt Nam là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng, cư trú xen kẽ và phân tán trên mọi vùng miền của đất nước; cơ cấu dân số và trình độ phát triển giữa các dân tộc không đồng đều.

        Trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc đặt ra hàng loạt các giải pháp giải quyết cả ở tầm vĩ mô và tổ chức thực hiện các chính sách, các chương trình mục tiêu cụ thể…

        “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” giữa các dân tộc vừa là mục tiêu vừa là nguyên tắc trong quá trình hoạch định chính sách và thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội nói chung và xây dựng chính sách dân tộc, thực hiện công tác dân tộc nói riêng.

        Thực hiện công tác dân tộc trước hết là phải nói đến mục tiêu và nguyên tắc Bình đẳng. Các dân tộc trong cộng đồng quốc gia Việt Nam đều bình đẳng với nhau về quyền lợi và nghĩa vụ trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Bình đẳng không phải chỉ là vì các dân tộc phát triển không đồng đều về kinh tế - xã hội, mà bình đẳng giữa các dân tộc còn là vì dân tộc ta trong Cách mạng dân tộc dân chủ và sau này, trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá luôn đặt ra những thách thức mới mẻ về quản lý xã hội, quản lý nền kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng, tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội. Đoàn kết là truyền thống lịch sử vốn có của cộng đồng các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Bình đẳng là cơ sở của đoàn kết giữa các dân tộc, nếu không có bình đẳng thì không thể có đoàn kết thực sự. Thực tiễn Cách mạng nước ta đã chứng minh sức mạnh vô song của khối đại đoàn kết các dân tộc. Tương trợ lẫn nhau giữa các dân tộc không chỉ là yêu cầu có tính nguyên tắc mà còn là tất yếu khách quan trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước. Để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nếu không có sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau vì mục tiêu cùng phát triển thì các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, việc rút ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các dân tộc không những chỉ gặp khó khăn mà sẽ còn mất một khoảng thời gian dài… Tư tưởng “Bình đẳng - Đoàn kết - Tương trợ” của Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng để Đảng ta hoạch định và thực hiện chính sách dân tộc, khắc phục tư tưởng “dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc”, đặt lợi ích cộng đồng, quốc gia lên trên hết. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa các yếu tố: Bình đẳng là cơ sở của đoàn kết, đoàn kết tạo nên sức mạnh bền vững cho sự bình đẳng và giúp đỡ tương trợ nhau cùng phát triển, đi lên của cả cộng đồng đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi là một bộ phận hữu cơ của chiến lược phát triển nền kinh tế quốc dân; sự nghiệp phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội vùng dân tộc và miền núi là sự nghiệp chung của cả nước; khai thác mọi tiềm năng, nguồn lực để xây dựng và phát triển vì lợi ích trực tiếp của đồng bào các dân tộc, đồng thời vì lợi ích chung của cả nước; phát triển miền núi và vùng đồng bào dân tộc theo quan điểm toàn diện, bao gồm kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh…

        Công tác dân tộc luôn có vị trí quan trọng của nhiệm vụ Cách mạng nước ta trong mọi giai đoạn lịch sử. Về thực chất, nội dung của công tác dân tộc ở nước ta là giải quyết mối quan hệ giữa các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc bằng các chính sách dân tộc. Đó là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay. Hệ thống chính sách của Đảng và Nhà nước ta là thực hiện “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” giữa các dân tộc, nhằm phát triển toàn diện về mọi mặt; ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, nhất là đối với vùng đặc biệt khó khăn (ĐBKK); thực hiện xoá đói giảm nghèo và bảo vệ bền vững môi trường sinh thái, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

        Cụ thể hoá các chính sách phù hợp với đặc điểm mang tính đặc thù vấn đề từng vùng miền, từng nhóm dân tộc ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, nhất là vùng ĐBKK.

        Từ miền núi đến vùng cao và “ba khu vực” là một quá trình chuyển biến tư duy nhận thức trong hoạch định chính sách và cụ thể hoá các chính sách đối với vùng dân tộc và miền núi. Kinh tế - xã hội miền núi nước ta đã có những bước chuyển biến rõ rệt theo hướng tích cực, song nhìn chung nhịp độ phát triển còn chậm, chưa tương xứng tiềm năng thế mạnh của vùng. Trong những năm qua, hàng loạt các chính sách và nhiều giải pháp cụ thể đã được thực hiện, bước đầu mang lại những kết quả rất đáng phấn khởi, bộ mặt nông thôn miền núi nhìn chung đã khởi sắc, nhiều nơi đã chuyển từ thế ổn định sang phát triển, phát huy thế mạnh tại chỗ, khai thác có hiệu quả tiềm năng của miền núi, nhất là đối với địa bàn vùng cao.

        Vùng cao là bộ phận quan trọng của miền núi nước ta, với hơn 11 triệu đồng bào các dân tộc sinh sống. Việc xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng cao là bước cụ thể hoá quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội miền núi nước ta. Quá trình đó ngày càng được bổ sung, hoàn thiện để hệ thống chính sách đối với miền núi ngày càng sát thực, cụ thể, phù hợp và hiệu quả hơn.

        Để có cơ sở đầu tư phát triển, thực hiện các chủ trương chính sách sát hợp với từng khu vực, từng đối tượng, có hiệu quả ở vùng dân tộc và miền núi, ba khu vực theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội đã được phân định: Khu vực I là khu vực bước đầu phát triển; khu vực II và khu vực tạm ổn và khu vực III là khu vực ĐBKK (theo tiêu chí: Điều kiện tự nhiên, địa bàn cư trú; cơ sở hạ tầng; các yếu tố xã hội; điều kiện sản xuất và đời sống) đã được phân định và công bố năm 1997:

        + Khu vực I, gồm hơn 1,2 triệu hộ, với hơn 6 triệu nhân khẩu của 930 xã (phường, thị trấn).

        + Khu vực II, gồm hơn 1,6 triệu hộ, với hơn 6 triệu nhân khẩu của 1.855 xã (phường, thị trấn).

        + Khu vực III, gồm hơn 900 nghìn hộ, với gần 5,2 triệu nhân khẩu của 1.715 xã (phường, thị trấn).

        Khu vực ĐBKK (Khu vực III) gồm các xã như sau: Địa bàn cư trú: gồm các xã vùng sâu, vùng xa, vùng cao hẻo lánh, vùng biên giới, hải đảo. Khoảng cách của các xã đến khu trục động lực phát triển hơn 20 km. Cơ sở hạ tầng chưa được xây dựng, hoặc còn tạm bợ. Giao thông rất khó khăn, không có đường ô tô vào xã. Các công trình điện, thuỷ lợi, nước sạch, trường học, trạm y tế, dịch vụ khác rất thấp kém hoặc không có. Các yếu tố xã hội chưa đạt mức tối thiểu. Dân trí quá thấp, tỷ lệ mù chữ và thất học hơn 60% bệnh tật nhiều, tập tục lạc hậu, không có thông tin. Điều kiện sản xuất rất khó khăn, thiếu thốn. Sản xuất mang tính tự nhiên, chủ yếu phá rừng làm nương rẫy, du canh du cư. Số hộ đói nghèo hơn 60% số hộ của xã. Đời sống thật sự khó khăn, nạn đói thường xuyên xảy ra.

        Trên cơ sở phân định 3 khu vực và xác định khu vực III, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg, ngày 31/7/1998 phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã ĐBKK miền núi và vùng sâu, vùng xa (gọi tắt là Chương trình 135).

        Đầu tư phát triển theo vùng đối với việc thực hiện chính sách dân tộc là chủ trương đúng đắn đã và đang thực hiện, trong đó ưu tiên tập trung vào vùng ĐBKK sẽ tiếp tục thực hiện, được xem như “đột phá khẩu” vào những nơi khó khăn nghèo đói nhất nước, nhằm hạn chế và tiến tới rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển khó khăn - xã hội giữa các vùng miền, có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

        Chiến lược phát triển bền vững vùng dân tộc và miền núi, với mục tiêu đặt ra là: Tăng trưởng kinh tế đồng thời với bảo đảm ổn định và công bằng xã hội, môi trường sinh thái được giữ gìn bảo vệ, gồm những nội dung như sau:

        - Về kinh tế: Tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu vùng dân tộc và miền núi; chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng dân tộc và miền núi theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, khuyến khích các mô hình liên kết các “Nhà”: Nhà nước - Nhà nông - Nhà doanh nghiệp - Nhà khoa học - Nhà tín dụng…; quy hoạch sắp xếp lại dân cư ở những nơi cần thiết, xây dựng các tiểu vùng kinh tế hàng hoá, có cơ sở chế biến, thương mại, dịch vụ, du lịch… xây dựng các khu kinh tế cửa khẩu, thị trấn, thị tứ, trung tâm cụm xã; ổn định các khu tái định cư của các công trình công nghiệp, thuỷ điện; đưa dân trở lại sinh sống vùng biên giới để ổn định sản xuất và đời sống.

        - Về chính trị: Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở, phù hợp với đặc thù ở vùng đồng bào dân tộc; thực hiện quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đội ngũ cán bộ là người dân tộc, trong đó hết sức lưu ý các nhóm đối tượng: học sinh, sinh viên đã qua đào tạo từ các trường, thanh niên dân tộc sau khi đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, đội ngũ cán bộ cốt cán, chủ chốt, cán bộ công tác lâu năm ở miền núi, nhất là đối với HĐND, UBND xã, xã đội, công an xã… người có uy tín trong cộng đồng, già làng, trưởng bản, nhân sĩ trí thức dân tộc; tăng cường cán bộ có chất lượng xuống cơ sở, những nơi trọng điểm phức tạp, còn nhiều yếu kém, bức xúc; xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở phù hợp với tập quán, văn hoá của mỗi vùng dân tộc; tập trung giải quyết cơ bản những điểm nóng phức tạp, bức xúc hiện nay; thực hiện tốt chính sách tôn giáo, tuyên truyền, vận động, giáo dục quần chúng có tín ngưỡng và tranh thủ các chức sắc tôn giáo, ngăn chặn việc lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị và truyền bá tà đạo.

        - Về văn hoá: Bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số; củng cố và xây dựng các thiết chế văn hoá, nhất là thiết chế văn hoá thông tin cơ sở, xây dựng nhà văn hoá, cụm thông tin bưu điện, cấp không thu tiền của loại báo, tạp chí phục vụ các hoạt động văn hoá thông tin các thôn bản; đảm bảo cho tất cả các xã ĐBKK có trạm truyền thanh, truyền hình; tăng cường thời lượng và nâng cao chất lượng phát sóng truyền thanh, truyền hình bằng tiếng các dân tộc trong khu vực; đẩy mạnh các hoạt động sinh hoạt văn hoá truyền thống của đồng bào các dân tộc, tổ chức các lễ hội, tăng cường giao lưu văn hoá giữa các dân tộc trong khu vực và các vùng trong cả nước; vận động hướng dẫn đồng bào khắc phục, tiến tới xoá bỏ các tập tục lạc hậu làm cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi; phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, tăng cường đào tạo nguồn nhân lực. Tiếp tục thực hiện những chính sách ưu tiên trong tuyển sinh vào các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đối với con em đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng ĐBKK.

        - Về xã hội: Đẩy mạnh công cuộc xoá đói giảm nghèo. Giải quyết vấn đề đất sản xuất, đất ở, cung cấp nước sinh hoạt, hỗ trợ về nhà ở cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển các mặt hàng chính sách xã hội, tiêu thụ sản phẩm, hỗ trợ dân tộc thiểu số ĐBKK, hỗ trợ phát triển sản xuất, đầu tư, tín dụng…; các giải pháp về y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, nâng cao chất lượng phòng chống dinh dưỡng, khuyến khích trồng và sử dụng các loại thuốc dân gian, y học cổ truyền dân tộc phù hợp với từng vùng; đảm bảo cơ số thuốc dự phòng cần thiết cho vùng sâu, vùng xa, vùng ngập lũ; chủ động phòng chống dịch bệnh, không để xảy ra các dịch bệnh lớn, nguy hiểm, xây dựng kiên cố hoá các trạm y tế xã, phòng khám đa khoa cụm xã, nâng cấp cải tạo các bệnh viện huyện, tỉnh và khu vực với trang thiết bị đầy đủ, chuẩn hoá trạm y tế xã và các cơ sở y tế trung tâm cụm xã. Thực hiện các chương trình bảo vệ và phát triển rừng, bảo vệ các nguồn nước; quy hoạch và quản lý chặt chẽ với việc phát triển sản xuất công nghiệp, khai thác tài nguyên, khoáng sản, các công trình thuỷ lợi ở vùng dân tộc và miền núi vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, nhưng phải đảm bảo cân bằng sinh thái và chống ô nhiễm môi trường. Đa dạng hoá việc giao đất giao rừng gắn kết hợp lý lợi ích của Nhà nước - Cộng đồng - Gia đình - Doanh nghiệp. Xây dựng và mở rộng các mô hình phát triển kinh tế rừng với bảo vệ và phát triển vốn rừng.

        - Về quốc phòng, an ninh: Xây dựng, quy hoạch và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội gắn với tăng cường thế và lực quốc phòng, giữ vững an ninh trật tự xã hội trên các địa bàn trọng điểm, xung yếu về quốc phòng và an ninh. Quy hoạch sắp xếp lại dân cư, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào an tâm phát triển sản xuất, tham gia giữ vững an ninh quốc phòng. Có quy hoạch, kế hoạch đầu tư xây dựng biên giới vững mạnh toàn diện về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh; có chính sách ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân định cư ở khu vực biên giới. Đa dạng hoá các mô hình phát triển kinh tế - xã hội gắn với quốc phòng an ninh; tăng cường công tác quản lý nhà nước về an ninh, trật tự khu vực biên giới; xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị, ổn định lâu dài với các nước láng giềng. Xây dựng cơ chế phối hợp các lực lượng thực hiện các hoạt động quản lý nhà nước về an ninh, trật tự khu vực biên giới, đường biên giới; tăng cường hợp tác quốc tế trong đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, giải quyết những vấn đề hai bên cùng quan tâm, đấu tranh kịp thời với các hoạt động xâm phạm chủ quyền an ninh quốc gia.

        Từ những nội dung trên đây, có thể rút ra các nhóm giải pháp vừa trước mắt, vừa lâu dài nhằm thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước:

        + Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp các ngành từ Trung ương đến cơ sở về xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.

        + Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng dân tộc gắn với thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở, trong đó lưu ý việc phát huy vai trò những người có uy tín trong cộng đồng đồng bào dân tộc.

        + Tăng cường công tác vận động quần chúng, đổi mới nội dung và phương pháp dân vận ở vùng dân tộc theo phương châm “Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, có trách nhiệm với dân”.

        + Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

        + Kiện toàn hệ thống cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số đối với từng vùng, từng dân tộc.

        Vài ý kiến nhỏ bàn về giải pháp thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội và đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tham gia thảo luận, góp phần làm rõ hơn việc bảo đảm sự bình đẳng, đoàn kết và tương trợ giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc trong cộng đồng đại gia đình các dân tộc Việt Nam./.

 

TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,260,211


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs