Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 02/02/2005
Nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc đã đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc và miền núi tỉnh Quảng Trị

 

Lê Khước
Trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Trị

        Địa hình vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tỉnh Quảng Trị có độ dốc cao, bị cắt xẻ bởi nhiều khe suối. Diện tích tự nhiên toàn vùng 316.675 ha (chiếm 2/3 diện tích tự nhiên của tỉnh), có đường biên giới giáp nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, dài 26 km. Toàn vùng có 47 đơn vị hành chính cấp xã, thị trấn thuộc 2 huyện miền núi và 3 huyện có xã miền núi; dân số 25.000 hộ, 127.327 khẩu, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số Vân Kiều, Pa Kô 9.589 hộ, 55.195 khẩu.

        Nằm giữa đại ngàn Trường Sơn, trong chiến tranh miền núi Quảng Trị là vùng căn cứ địa Cách mạng với những địa danh đã đi vào lịch sử như nhà tù Lao Bảo, chiến khu Ba Lòng, Đường 9- Khe Sanh, sân bay Tà Cơn… Và trên mảnh đất đó đồng bào dân tộc Vân Kiều, Pa Kô là chỗ dựa vững chắc cho cán bộ, chiến sĩ hoạt động; là nơi cung cấp sức người, sức của góp phần tạo nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc. Trong xây dựng đất nước, miền núi Quảng Trị là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng; là cửa ngõ thông thương với các nước láng giềng trong khu vực và thế giới qua cửa khẩu Quốc tế Lao Bảo, cửa khẩu Quốc gia La Lay, nơi đầu nguồn của các con sông lớn hiện rền vang tiếng máy cho một đại công trình Thuỷ lợi - Thuỷ điện Quảng Trị đang thi công.

        Nhận thức đúng vị trí chiến lược quan trọng của công tác dân tộc và đoàn kết các dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ quê hương, xuất phát từ đặc điểm, tình hình của địa phương, những năm qua Đảng bộ và nhân dân tỉnh Quảng Trị đã tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về công tác dân tộc.

        Bước vào năm 2004, năm thứ hai triển khai thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc, Tỉnh uỷ Quảng Trị đã ban hành Chương trình hành động số 36 CTHĐ/TU về “Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” và Chương trình hành động số 37 CTHĐ/TU về “Công tác dân tộc”. Trên cơ sở đó, UBND tỉnh cụ thể hoá Chương trình hành động của Tỉnh uỷ bằng Kế hoạch hành động phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng vùng miền núi và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số từ nay đến năm 2005 và 2010. Đây chính là một thuận lợi rất lớn, làm nền tảng cho công tác dân tộc trong tỉnh vận hành theo chủ trương chính sách phù hợp với từng tiểu vùng; các cơ chế, chính sách mới của địa phương và cũng là giải pháp cụ thể để xác định trách nhiệm cho mỗi ngành, mỗi cấp, mỗi địa phương thực hiện. Từ đó sự chỉ đạo được thống nhất và phối hợp chặt chẽ của các ngành các cấp đã phát huy sức mạnh tổng hợp trong việc thực hiện tốt các chính sách, chương trình dự án của Chính phủ đầu tư, lồng ghép với các dự án quốc tế tài trợ, các đơn vị nhận đỡ đầu xã đặc biệt khó khăn và nội lực của từng địa phương… Kết quả đã thúc đẩy tiến trình xây dựng phát triển kinh tế xã hội và an ninh quốc phòng vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi về các mặt.

        Tốc độ tăng trưởng đạt 8-9%, nông nghiệp chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá, đảm bảo duy trì mức an toàn lương thực trên cơ sở tận dụng những nơi chủ động nước tưới để khai hoang diện tích đất canh tác lúa nước và trồng cây lương thực khác. Cơ cấu cây trồng vật nuôi chuyển đổi theo lợi thế của từng tiểu vùng, hình thành các nơi chuyên canh có diện tích lớn như cà phê, sắn nguyên liệu tinh bột ở Hướng Hoá; cây lâm nghiệp ở huyện Đakrông; cao su, hồ tiêu ở Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ. Tỷ lệ hộ đói nghèo vùng đặc biệt khó khăn giảm từ 39,42% năm 2003 xuống 34% vào năm 2004. Toàn vùng hạn chế tình trạng thiếu ăn đứt bữa trong kỳ giáp hạt. Nhiều mô hình hộ gia đình, thôn bản sản xuất giỏi, thu nhập khá xuất hiện; kinh tế trang trại hình thành ở nhiều nơi.

        Ngoài các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng xã đặc biệt khó khăn, trung tâm cụm xã miền núi, hiện tại tỉnh Quảng Trị đang tập trung hoàn thành việc hỗ trợ xây dựng 1.000 nhà ở cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, đang thi công thông tuyến kỹ thuật đường giao thông vào các xã A Vao, Ba Lòng, Hải Phúc của huyện Đakrông. Hệ thống điện lưới quốc gia đã kéo đến trung tâm của 46/47 xã miền núi; khánh thành đưa vào sử dụng hệ thống cấp nước sinh hoạt cho hơn một vạn hộ dân của thị trấn huyện lỵ Krông KLang mới được thành lập và xã Mò Ó của huyện Đakrông.

        Các mặt văn hoá xã hội luôn được quan tâm đầu tư. Năm 2004 tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường đạt 94,7%; chất lượng dạy và học được nâng lên một bước. Tỉnh có chính sách ưu tiên để tăng cường đội ngũ giáo viên về các xã miền núi. Thực hiện chính sách cử tuyển vào Trường Dự bị Đại học Nha Trang được 19 em; 24 em vào Đại học, Cao đẳng. UBND tỉnh sử dụng kinh phí địa phương để đào tạo 50 em học Trung học Mầm non, 50 em học bác sĩ đa khoa tại Đại học Y khoa Huế. Các lớp dạy chữ dân tộc tiếp tục được mở lớp tại các ngành Công an, Bộ đội Biên phòng. Ngành y tế thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra, ngăn chặn kịp thời không để các ổ dịch lây lan trên địa bàn; chính sách miễn giảm viện phí, cấp phát thuốc cho hộ nghèo được thực hiện ở các cấp, tạo điều kiện cho đồng bào tiếp cận với các hình thức dịch vụ y tế ở mọi tuyến điều trị. Hoạt động văn hoá, văn nghệ, chiếu phim lưu động đến các thôn bản đều duy trì đều đặn. Năm 2004, xây dựng mới một trạm phát lại truyền hình, 80% dân số trong vùng được xem truyền hình của Trung ương và địa phương. Đặc biệt trong Chương trình Lễ hội Nhịp cầu Xuyên Á được tổ chức tại Quảng Trị vào tháng 7 năm 2004, đội nghệ thuật cồng chiêng dân tộc Pa Kô xã Tà Rụt huyện Đakrông đã tham gia biểu diễn thành công để lại nhiều tình cảm tốt đẹp và ấn tượng sâu sắc trong lòng người xem, các đoàn trong nước.

        Cuộc vận động toàn dân xây dựng đời sống văn hoá khu dân cư được đồng bào đồng tình ủng hộ. Đến nay có nhiều thôn, bản được công nhận là đơn vị văn hoá cơ sở. Đã quan tâm chăm sóc gia đình có công, gia đình chính sách; tôn vinh những đóng góp của Già làng, Trưởng bản tiêu biểu trong công cuộc xây dựng quê hương, đi đầu trong xây dựng khối đại đoàn kết dân cư. Tháng 8/2004, tỉnh đã tổ chức Hội nghị Già làng, Trưởng bản đồng bào dân tộc thiểu số. Để củng cố xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, đã tăng cường cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng biên phòng, quân sự, khối chính quyền, đoàn thể đến các xã biên giới, xã đặc biệt khó khăn. Nhờ đó đã góp phần ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh ở các địa bàn này.   

        Bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số Quảng Trị còn nhiều khó khăn. Mặt bằng trình độ dân trí thấp, nhiều nơi còn lúng túng trong việc tự chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi; tập quán kinh tế lạc hậu, chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ khó khăn; sản xuất tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ phát triển chậm; kết cấu hạ tầng còn thấp đặc biệt là hạ tầng phục vụ cho sản xuất nông nghiệp; tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của tỉnh. Một số nơi bản sắc văn hoá dân tộc đang bị mai một; hệ thống chính trị cơ sở còn yếu và thiếu. Một bộ phận nhân dân có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự giúp đỡ của Nhà nước. Nguồn ngân sách của tỉnh không đủ để thực hiện các chính sách khuyến khích tạo cơ chế phù hợp đảm bảo mọi hoạt động khác.

        Để tiếp tục thực hiện thắng lợi các mục tiêu đặt ra trong Chương trình hành động về công tác dân tộc, từ điều kiện tự nhiên của một tỉnh luôn bị thiên tai đe doạ, nguồn lực phát triển kinh tế xã hội thấp, tỉnh Quảng Trị luôn mong nhận được sự quan tâm đầu tư của Trung ương. Trước mắt tập trung vào các yêu cầu cần được giải quyết trong kế hoạch năm 2005 và những năm tiếp theo như: bố trí kịp thời kinh phí thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống khó khăn theo Quyết định 134/QĐ-TTg ngày 20/7/2004; Quyết định số 174/QĐ-TTg ngày 01/10/2004 về hỗ trợ đầu tư trong kế hoạch năm 2005 cho một số huyện miền núi thuộc các tỉnh giáp Tây Nguyên, phía Tây khu 4 cũ và miền núi phía Bắc; bố trí ngân sách để thực hiện các chính sách hỗ trợ về giáo dục, y tế, văn hoá, an ninh quốc phòng; đầu tư thực hiện dự án “Bảo tồn và phát triển bền vững cộng đồng dân tộc Tà Ôi vùng biên giới A Vao huyện Đakrông”. Đây là một xã vùng biên giới Việt - Lào có những thôn, bản ở cách xa trung tâm xã hơn một ngày đường; đất đai và tài nguyên khá dồi dào, có nhiều tiềm năng khai thác tốt. Song do nguồn lực địa phương không đủ để đầu tư nên đời sống của nhân dân ở vùng này có rất nhiều khó khăn, nhiều hộ gia đình, dòng họ đang chuẩn bị di cư tự do về vùng trung tâm và những vùng phía sau. Đầu tư và hỗ trợ thích hợp cho xã Hướng Việt huyện Hướng Hoá (vừa được thành lập) và các thôn, bản khu vực III của các xã khu vực II, các xã, thị trấn khu vực I nằm ngoài Chương trình 135. Quảng Trị mong muốn Trung ương cho thành lập Trường Đào tạo cán bộ tổng hợp cho con em dân tộc thiểu số.

        Với ý chí kiên cường trong đấu tranh và xây dựng quê hương, tính nhân văn và truyền thống đoàn kết cộng đồng dân tộc cùng sinh sống trên một vùng đất đã chịu nhiều gian nan thử thách từ hiểm hoạ thiên nhiên và hậu quả chiến tranh để lại, với những kết quả đạt được còn khiêm tốn trong thực tiễn khi thực hiện Nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc trong năm 2004, Quảng Trị sẽ nỗ lực hơn nữa trong điều kiện cho phép của địa phương cộng với hỗ trợ đầu tư của Trung ương để tạo thành sức mạnh quyết định mọi thành công trong công tác dân tộc những năm tiếp theo./.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,260,313


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs