Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 03/02/2005
Đặc điểm của cộng đồng dân cư Khmer Nam bộ và việc thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực khoa giáo


Chùa Sôm ở huyện Ô Môn thành phố Cần Thơ, một địa chỉ hoạt động văn hoá - giáo dục của đồng bào Khmer

Đồng bào Khmer Nam Bộ đồng tộc, đồng tôn và cùng ngôn ngữ với người Khmer ở Campuchia. Trong quá trình phát triển lịch sử, họ trở thành dân tộc của hai quốc gia riêng biệt. Người Khmer Nam Bộ là dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. Là dân tộc tại chỗ, người Khmer gắn chặt với sự phát triển của vùng đất Nam Bộ; đồng thời nhạy cảm với diễn biến tình hình của Campuchia.

        Đồng bào sống tập trung ở 9 tỉnh, thành phố khu vực đồng bằng sông Cửu Long, là vùng có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, là địa bàn nhạy cảm về vấn đề dân tộc và tôn giáo; đồng thời cũng là vùng còn tiềm ẩn những yếu tố có thể gây mất ổn định về an ninh chính trị. Với dân số khoảng 1,3 triệu người, đa số dân tộc Khmer sống bằng nghề nông, địa bàn cư trú chủ yếu là vùng nông thôn.

        Dân tộc Khmer có nền văn hoá, ngôn ngữ phát triển lâu đời, được bảo tồn, khai thác và phát huy trong cuộc sống. Hầu hết đồng bào Khmer theo đạo Phật, phái Nam Tông, gồm hai hệ phái Mahanikai và Thomajud. Ở Nam Bộ có khoảng 450 chùa và gần 10.000 vị sư đang tu học. Phật giáo Nam Tông Khmer, Hội ĐKSSYN các tỉnh gắn bó và có nhiều đóng góp cho sự nghiệp Cách mạng trước đây và hiện nay tiếp tục góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Các vị sư, ngôi chùa Khmer có vị trí đặc biệt trong đời sống của cộng đồng. Dân tộc và tôn giáo gắn chặt với nhau. Triết lý, văn hoá Phật giáo thấm sâu trong đời sống tinh thần của dân tộc Khmer. Dấu tích của Bà La Môn giáo và tín ngưỡng dân gian còn thể hiện khá rõ trong phong tục tập quán của dân tộc Khmer.

        Suốt quá trình phát triển lâu dài, các dân tộc trên địa bàn đã cùng nhau chia sẻ những khó khăn, thách thức và góp phần quan trọng tạo nên những thành tích chung. Từ khi có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; tinh thần tương trợ, đoàn kết giúp đỡ nhau càng được phát huy. Nó trở thành một truyền thống quý báu, tạo nên sức mạnh trong sự nghiệp Cách mạng.

        Do những đặc thù của dân tộc, cùng với chủ trương, chính sách chung; Đảng ta còn có chính sách cụ thể đối với dân tộc Khmer. Thực hiện chính sách chung của Đảng và Chỉ thị 68-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về công tác ở vùng dân tộc Khmer; Trung ương, Chính phủ, các địa phương đã quan tâm chỉ đạo, đầu tư và đã tạo nên sự chuyển biến tích cực về nhiều mặt; trong đó, có lĩnh vực khoa giáo ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long và vùng dân tộc Khmer.

        Thành tựu của quá trình đổi mới đã đem lại kết quả thiết thực cho đồng bằng sông Cửu Long, bộ mặt nông thôn vùng dân tộc có bước phát triển tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào được cải thiện. Những năm qua, đời sống kinh tế và mức hưởng thụ văn hoá vùng dân tộc Khmer có mặt được nâng lên. Tình trạng hộ đói triền miên không còn, số hộ nghèo giảm dần. Tỷ lệ hộ được xem phim ảnh, truyền hình, nghe radio bằng cả hai thứ tiếng ngày càng nhiều. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường nhất là ở các xã đặc biệt khó khăn trong vùng dân tộc được đầu tư từ Chương trình 135 và chương trình lồng ghép khác. Trường học, trạm xá, nước sạch, điện sinh hoạt, thuỷ lợi nhỏ, giao thông, nhà ở… được xây dựng góp phần cải thiện điều kiện sản xuất, sinh hoạt chung trong cộng đồng.

        Tuy vậy, vùng dân tộc Khmer vẫn còn nhiều khó khăn. Hộ nghèo còn gần 70.000 hộ, chiếm tỷ lệ 13% trong tổng số hộ dân tộc Khmer. Số hộ không đất, thiếu đất sản xuất còn 38.882 hộ. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn lúng túng. Kết quả xoá đói giảm nghèo chưa bền vững. Vấn đề phân hoá giàu nghèo giữa các dân tộc, những yếu kém về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội trong khu vực và vùng dân tộc Khmer vẫn còn là vấn đề bức xúc.

        Trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của vùng dân tộc Khmer nói riêng có sự đóng góp to lớn của công tác khoa giáo. Song trên thực tế hoạt động khoa giáo dân tộc Khmer cũng còn đối mặt với nhiều khó khăn.

        - Lĩnh vực giáo dục, đào tạo: Mạng lưới trường lớp và cơ sở vật chất được tăng cường. Ngoài cơ sở vật chất của hệ thống giáo dục phổ thông; các tỉnh có đông đồng bào Khmer còn có trường PTDTTN. Hiện nay, có 8 trường PTDTNT cấp tỉnh, 11 trường PTDTNT cấp huyện và 1 trường bán trú.

        Học sinh dân tộc Khmer hàng năm đều tăng. Năm 2002-2003 có 239.186 học sinh và năm 2003-2004 có 242.610 học sinh phổ thông, 5.405 học sinh PTDTNT  và khoảng 1.500 học sinh, sinh viên cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và đại học là dân tộc Khmer. Trẻ em trong độ tuổi đến trường đạt trên 90%. Công tác xoá mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học thực hiện đúng tiến độ. Việc đào tạo nghề bước đầu được quan tâm. Việc học chữ Khmer ở các trường trong chùa vào dịp hè và học tại các trường tiểu học có đông học sinh dân tộc Khmer được duy trì, số  lượng học sinh tham gia học ngày càng nhiều. Việc biên soạn, in ấn sách phục vụ dạy, học tiếng dân tộc được tăng cường.

        Số lượng và tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng ở vùng này còn ít và thấp nhưng hàng năm đang tăng dần. Năm 1989, cả nước có 1,17% dân số có trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học; ở đồng bằng sông Cửu Long tỷ lệ đó chỉ đạt 0,39%, dân tộc Khmer chỉ mới đạt 0,05%. Đến nay, người có trình độ sau đại học là người Khmer có 2 tiến sĩ, đã nghỉ hưu và một số thạc sĩ đang công tác. Giáo viên là người Khmer hiện có 6.405 (chiếm 5,04% so với giáo viên chung trong khu vực). Việc nâng số lượng và chất lượng giáo viên dạy tiếng dân tộc có bước chuyển biến tốt.

        Việc học chữ Pali, chữ Khmer và Bổ túc văn hoá theo truyền thống của Phật giáo Pali - Khmer Nam Tông Khmer ở các chùa được tạo điều kiện. Riêng trường Bổ túc văn hoá - Pali trung cấp Nam Bộ tại Sóc Trăng từ khi thành lập đến nay, Trường đã tuyển sinh được 12 khoá, với tổng số học viên là 573 vị tăng sinh và đã tốt nghiệp ra trường được 8 khoá với 235 vị sư. Kết quả đào tạo của trường này phù hợp với đặc điểm của Phật giáo Nam Tông Khmer và đặc thù ngôn ngữ dân tộc. Vì đa số các vị sư là con em nhân dân lao động nghèo, không có điều kiện học hành ở các trường phổ thông. Đa số các vị sư chỉ tu trong một thời gian ngắn, rồi hoàn tục tham gia các hoạt động đời thường. Thực tế cho thấy, nhiều cán bộ Cách mạng dân tộc Khmer xuất thân từ giới nhà sư. Ngôn ngữ Khmer là do sự cấu thành của ba bộ phận: Tiếng Khmer, Tiếng Săn sacrit và ngôn ngữ Pali. Cho nên, muốn viết đúng, hiểu sâu và sử dụng tốt ngôn ngữ Khmer phải biết tiếng Pali. Chương trình học của các vị sư Khmer ở trường là một nguồn kiến thức bổ ích và các vị sư là nguồn bổ sung đội ngũ cán bộ dân tộc. Đội ngũ này, có kiến thức phổ thông, nắm được chủ trương, chính sách của Đảng, am hiểu phong tục, tập quán, ngôn ngữ dân tộc và gắn bó với cộng đồng.

        Nhờ thực hiện chính sách cử tuyển, miễn giảm học phí, ưu tiên điểm thi, mở các trường PTDTNT, trường dự bị đại học, trường Bổ túc văn hoá -Pali trung cấp Nam Bộ… lĩnh vực giáo dục đào tạo ở vùng dân tộc Khmer có mặt khởi sắc. Mặc dù vậy, hiệu quả giáo dục - đào tạo trong dân tộc Khmer vẫn còn thấp; số lượng và chất lượng có mặt được nâng lên nhưng không đều. Học sinh càng lên cao, càng ít dần; mất cân đối giữa các cấp học. Việc đào tạo nghề chưa được chú ý đúng mức. Việc học ngôn ngữ dân tộc chất lượng thấp. Nhiều nơi, cơ sở vật chất, sách giáo khoa, đội ngũ giáo viên còn thiếu, chất lượng hạn chế. Việc học hành của các vị sư Khmer chưa được quản lý chỉ đạo thống nhất. Nhận thức đối với việc thực hiện chính sách dân tộc trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo chưa đầy đủ. Chưa thấy hết tính đặc thù trong lĩnh vực giáo dục đối với dân tộc và Phật giáo Nam Tông Khmer. Việc thực hiện chính sách giáo dục chưa nhất quán.

        Công tác đào tạo, bồi dưỡng đảng viên, cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long được ngành chức năng và các địa phương quan tâm. Hiện nay, có 5.730 đảng viên là người Khmer. Số lượng cán bộ dân tộc Khmer được cơ cấu trong hệ thống chính trị các cấp tăng dần. Nhiệm kỳ Quốc hội khoá XI có 9 đại biểu Quốc hội là dân tộc Khmer, 1.488 đại biểu hội đồng nhân dân các cấp.

        Tuy vậy, về mặt số lượng, chất lượng cán bộ, đảng viên và việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc Khmer còn nhiều bất cập. Tỷ lệ đảng viên dân tộc Khmer trong khu vực Nam Bộ chỉ mới được 0,44% so với dân số. Số cán bộ, đảng viên đủ tiêu chuẩn còn rất ít. Tỉnh Sóc Trăng theo số liệu khảo sát, trong tổng số 2.198 cán bộ dân tộc Khmer (chiếm 0,61% so với tỷ lệ dân số), chỉ có 92 cán bộ đạt tiêu chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ. Nhận thức, đánh giá và quan tâm đến vấn đề đội ngũ cán bộ và quy hoạch đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đảng viên là người Khmer còn ý kiến khác nhau. Có nơi chưa thấy hết những đặc thù của đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer. Việc tuyển dụng người mới tốt nghiệp và việc quy hoạch, đào tạo cán bộ đương chức là dân tộc Khmer còn gặp nhiều khó khăn. (Ngoài tỉnh Trà Vinh, các tỉnh khác việc bồi dưỡng đào tạo cán bộ dân tộc còn rất ít, chưa có quy hoạch).

        - Lĩnh vực y tế, chăm sóc sức khoẻ, gia đình, trẻ em: Cơ sở vật chất, trang thiết bị, thuốc men và đội ngũ cán bộ y tế ở vùng dân tộc từng bước được tăng cường. 100% xã vùng dân tộc Khmer có trạm y tế và cán bộ y tế hoạt động. Hiện nay, có 109 bác sĩ và 548 cán bộ y tế là người Khmer (chiếm 2,25% so với cán bộ y tế chung trong khu vực).

        Việc chăm sóc sức khoẻ nhân dân nói chung, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ em, tiêm chủng các loại vacxin phòng chống dịch bệnh được tăng cường. Điều kiện khám trị bệnh, giữ gìn vệ sinh thực phẩm có bước chuyển biến tích cực. Việc mua bảo hiểm y tế, miễn viện phí cho bệnh nhân nghèo được thực hiện theo quy định. Công tác truyền thông dân số, kế hoạch hoá gia đình đạt kết quả thiết thực; tỷ lệ tăng dân số trong dân tộc Khmer hàng năm giảm dần. Ý thức trong dân về phòng chống dịch bệnh, trị bệnh, thực hiện kế hoạch hoá gia đình có bước chuyển tích cực. Một số tập quán trị bệnh theo mê tín dị đoan, sinh đẻ nhiều như trước đây bị đẩy lùi.

        - Trên lĩnh vực khoa học - công nghệ, môi trường và thể dục, thể thao: Việc tuyên truyền, xây dựng phong trào quần chúng bảo vệ môi trường và kiểm tra các hoạt động về môi trường lần lượt được triển khai. Nhiều nơi đồng bào có ý thức phòng chống ô nhiễm ngay trong sản xuất và sinh hoạt. Những tập tục cũ, lạc hậu trong sản xuất, sinh hoạt được khắc phục dần. Nhiều nơi chăn nuôi đã có chuồng trại; các hộ gia đình làm hố xí hợp vệ sinh, tránh phóng uế bừa bãi; có ý thức thu gom chất thải sinh hoạt. Việc sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp, khai thác nước ngầm từng bước được hướng dẫn. Nhờ vậy, môi trường sống vùng dân tộc có bước cải thiện.

        Việc xã hội hoá thể dục thể thao được phát huy mạnh mẽ. Đồng bào tự tổ chức sân chơi bóng chuyền, bóng đá; tổ chức tập luyện đua ghe ngo, đua bò… Các hoạt động thể thao ở các khu vực dân cư diễn ra thường xuyên. Việc thi đấu bóng chuyền, bóng đá và trò chơi dân gian vào các ngày lễ, tết của dân tộc tạo không khí vui vẻ, được đông đảo nhân dân hưởng ứng, góp phần tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc.

        Việc ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trong các hoạt động sản xuất, kinh doanh, hội thảo đầu bờ giúp đồng bào nhiều biện pháp canh tác tiến bộ, tiếp cận cách làm ăn có hiệu quả; biết chọn các loại cây, con có năng suất, chất lượng tốt trong sản xuất, kinh doanh. Nhiều hộ dân tộc ứng dụng khoa học kỹ thuật, công nghệ mới thành công đạt hiệu quả tốt trong sản xuất, kinh doanh. Một số nơi chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi có hiệu quả.

        Tuy vậy, lĩnh vực y tế; dân số, gia đình, trẻ em; bảo vệ môi trường; thể dục thể thao và khoa học - công nghệ ở vùng dân tộc Khmer cũng còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ HIV, AIDS; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng và bệnh phụ khoa ở phụ nữ trong dân tộc Khmer còn cao. Việc chăm sóc sức khoẻ cho các vị sư chưa được quan tâm theo giới. Đội ngũ cán bộ y tế là người Khmer còn thấp so với tỷ lệ dân số (chỉ có 0,05%). Việc cấp giấy khai sinh cho trẻ em dân tộc Khmer có nơi thực hiện chưa tốt; ngành học mầm non, mẫu giáo trong vùng dân tộc kém phát triển; việc sử dụng trẻ em dưới độ tuổi lao động trong sản xuất vẫn còn; gần đây tỷ lệ gia đình sinh con thứ ba có xu hướng tăng. Tình trạng suy thoái môi trường trong vùng dân tộc một số nơi chưa khắc phục được. Việc ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ trong sản xuất còn ở phạm vi hẹp. Đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer tham gia nghiên cứu khoa học và hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật còn quá ít. Nhu cầu tư vấn và phổ biến kiến thức khoa học kỹ thuật nhiều nhưng việc thực hiện bị hạn chế do bất đồng ngôn ngữ. Các hoạt động thể dục thể thao vùng dân tộc còn mang tính tự phát. Sân bãi tập luyện, việc tổ chức vui chơi, thi đấu trong vùng dân tộc chủ yếu do bà con tự lực.

        Gần đây các thế lực thù địch bên ngoài có những hoạt động kích động, xuyên tạc chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta, chúng lợi dụng những khó khăn tồn tại khó tránh khỏi trong quá trình đi lên ở vùng đồng bào Khmer để tố cáo ta phân biệt đối xử với dân tộc Khmer, vi phạm nhân quyền... gây bất lợi về mặt chính trị và tác động xấu đến vùng dân tộc Khmer.

        Từ thực trạng trên, để tiếp tục làm tốt các chính sách trên lĩnh vực khoa giáo ở vùng dân tộc Khmer trong tình hình mới, đề nghị Ban Bí thư, Chính phủ, các Bộ ngành Trung ương  và các địa phương quan tâm đến các vấn đề sau:

        1. Đề nghị Ban Bí thư cho tổng kết 15 năm thực hiện Chỉ thị 68/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng khoá VI về công tác ở vùng dân tộc Khmer. Chính phủ đôn đốc các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương triển khai thực hiện các chính sách cụ thể trong Chỉ thị 14/2003/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về phương hướng, nhiệm vụ, giải quyết phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bằng sông Cửu Long đảm bảo an ninh quốc phòng thời kỳ 2001-2010.

        2. Đề nghị Chính phủ có quyết định mang tính chiến lược cho công tác khoa giáo đối với vùng dân tộc Khmer Nam Bộ. Bộ ngành và các địa phương tăng cường trách nhiệm trong việc thực hiện chính sách dân tộc nói chung; trong đó, có chính sách về lĩnh vực khoa giáo trong vùng dân tộc. Đẩy mạnh công tác giáo dục nâng cao nhận thức trong đồng bào dân tộc về tầm quan trọng của hoạt động khoa giáo.

        3. Tăng cường nguồn lực, tiếp tục đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội cho địa bàn vùng dân tộc, các xã đặc biệt khó khăn; nhất là các cơ sở phục vụ hoạt động khoa giáo. Hình thành trường dạy nghề cho dân tộc thiểu số ở cấp khu vực, trường đào tạo nhiều nghề vừa phục vụ cho lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ vừa phục vụ nhu cầu xuất khẩu lao động.

        4. Đề nghị cho duy trì chính sách miễn giảm học phí ở các cấp học. Tăng chỉ tiêu cho các trường PTDTNT, chỉ tiêu cử tuyển vào trường đại học, dự bị đại học, cao đẳng, dạy nghề. Cho triển khai thực hiện việc điều chỉnh tiêu chuẩn cử tuyển, mở rộng địa bàn cử tuyển ngoài xã thuộc Chương trình 135 và việc hình thành quỹ hỗ trợ chỗ ở cho học sinh, sinh viên con em các dân tộc thiểu số.

        5. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc trên các lĩnh vực giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật, lãnh đạo, quản lý nhà nước… với chỉ tiêu số lượng phù hợp tỷ lệ dân số của từng ngành và địa phương. Việc lựa chọn đào tạo, bồi dưỡng cần chú ý nguồn từ: thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự; trưởng thành trong phong trào Cách mạng của địa phương; học sinh các trường THPT, PTDTNT; các vị sư học các trường Bổ túc văn hoá - Pali. Để đào tạo được trí thức tiêu biểu có học vị cao, đề nghị có chỉ tiêu, chính sách cụ thể; kể cả chỉ tiêu đi đào tạo nước ngoài đối với các dân tộc thiểu số.

        6. Nghiên cứu hoàn thiện chương trình, kế hoạch, sách giáo khoa để nâng chất lượng dạy tiếng Khmer ở các trường và phối hợp nghiên cứu quản lý, chỉ đạo thống nhất việc tổ chức hệ thống học Bổ túc văn hoá - Pali cho các vị sư phù hợp đặc thù của Phật giáo Nam Tông Khmer. Có chế độ, chính sách đối với các vị sư Khmer đứng lớp dạy ngôn ngữ Khmer, Pali. Cùng với chính sách đối với tác giả nói chung; cần có chính sách động viên cho các tác giả biên soạn các loại sách phục vụ việc dạy, học ngôn ngữ Khmer, Pali.

        7. Tăng cường tài liệu bằng hai thứ tiếng và chương trình phát thanh, truyền hình bằng tiếng Khmer để tuyên truyền giáo dục trong vùng dân tộc. Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan ngôn luận thông tin báo chí; đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục, hướng dẫn cho đồng bào hiểu và hưởng ứng tích cực các hoạt động khoa giáo.

        8. Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, có chế độ chính sách thích hợp cho lĩnh vực thể dục, thể thao vùng dân tộc. Khai thác phát huy và đầu tư đúng mức; tránh xu hướng phô trương, thương mại hoá và khai thác quá mức trong lĩnh vực thể dục, thể thao tạo thành gánh nặng cho đồng bào.

        9. Cần có phòng khám và điều trị bệnh cho các vị sư Khmer phù hợp với đặc điểm của giới./.

 

Sơn Song Sơn
Uỷ viên Trung ương Đảng
Phó chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,286,968


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs