Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/12/2006
Cô giáo trẻ trên vùng cao Hoàng Su Phì
Trong trang phục thiếu nữ dân tộc Klao, với nước da trắng ngần, khuôn mặt trẻ trung, xinh đẹp ngời sáng, nụ cười hồn nhiên dễ mến, ít ai biết cô giáo trẻ Bạch Thị Mai đã trải qua một tuổi thơ đầy gian nan vất vả. Sinh ra và lớn lên tại huyện Chiêm Hoá, Tuyên Quang, Mai luôn nuôi dưỡng ước mơ làm được việc gì đó cho đồng bào mình ở quê hương vùng cao biên giới cực Bắc của Tổ quốc. Thấu hiểu sự khó khăn vất vả của cái vòng luẩn quẩn đói nghèo mà nguyên nhân chính là do thiếu cái chữ, Mai đã chọn nghề sư phạm gánh vác xứ mạng “gieo chữ, trồng người” ngay chính nơi chị và dòng họ đang sinh sống.

Sau khi tốt nghiệp Trường Trung cấp sư phạm Hà Giang, cô giáo trẻ dân tộc Klao Bạch Thị Mai đã tình nguyện lên dạy học tại xã Túng Sán, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang - là xã đặc biệt khó khăn; nơi sinh sống của 6 dân tộc Klao, Dao, Mông, Nùng, La Chí, Hoa; nằm ở dải núi Tây Côn Lĩnh, cách trung tâm huyện 25 km, địa hình phức tạp, phân tán và chia cắt mạnh, khí hậu khắc nghiệt. Những năm trước đây đời sống đồng bào rất khó khăn, người dân phải làm việc cật lực giành giật với thiên nhiên nên việc “học chữ” không được quan tâm. Đồng bào thường nói: “Chỉ chết đói khi không có ngô, chứ không ai chết đói do không có chữ”. Với quan niệm đó hầu hết đồng bào các dân tộc thiểu số ở Túng Sán nói chung và đồng bào Klao nói riêng, đặc biệt là phụ nữ đều không biết chữ và không biết nói tiếng Kinh (tiếng phổ thông). Cho đến năm học 2000-2001 khi cô giáo Mai về xã thì tỉ lệ học sinh trong tuổi đến trường cũng chỉ đạt 86%, cả xã chỉ có 7 học sinh nam học trung học cơ sở.

Nhớ lại những ngày đầu, Mai nói: “Em được phân công dạy lớp 1 ở một điểm trường cắm bản, cách trung tâm xã hơn 2 tiếng đi bộ, lớp học là tranh tre nứa lá tạm bợ, học sinh không nói thạo tiếng phổ thông nên khả năng tiếp thu rất kém. Hiểu rõ tâm lý đó, cũng như hoàn cảnh sống của các trò và của người dân nên em càng ý thức được trách nhiệm của mình nên đã kiên trì, dành tình cảm, ân cần động viên, chia sẻ với các em. Với phương pháp học mà chơi, chơi mà học em đã giúp các em nói thạo tiếng Kinh và cũng qua đó em cũng đã nói thạo các thứ tiếng của các dân tộc khác. Qua một năm học, nhận thức của các em đã được nâng lên, bớt tính tự ti và điều đáng mừng hơn các em đã ý thức được cái hay của việc được đi học chữ. Các bậc phụ huynh thấy em chân thành, cởi mở, nhiệt tình, hết lòng vì học sinh, lại nói được những thứ tiếng cũng như hiểu phong tục, tập quán của từng dân tộc nên tin tưởng động viên con cháu đến lớp. Không phụ lòng tin của đồng bào, em luôn cố gắng áp dụng phương pháp sư phạm đã học ở nhà trường vào thực tiễn địa phương tận dụng những vật liệu sẵn có để làm đồ giảng dạy giúp các em dễ dàng tiếp thu bài học, qua đó tình cảm cô trò đã gắn kết hơn, em cũng rút ra một số kinh nghiệm trong việc vận động học sinh trong độ tuổi đến trường cũng như phương pháp giảng dạy ở vùng cao, vùng đồng bào dân tộc. Em đã đề xuất với nhà trường tổ chức nhiều hoạt động ngoại khoá như trồng cây xanh bảo vệ rừng, gắn việc học tập với thực hành với các môn kỹ thuật tìm hiểu tự nhiên, xã hội, mỹ thuật, hát múa… thường xuyên tổ chức cho các em học sinh đến thăm và giúp đỡ học sinh có hoàn cảnh khó khăn với mục đích nuôi dưỡng tình tương thân tương ái, giúp nhau thi đua học tập cùng tiến bộ…” Qua 5 năm làm công tác chủ nhiệm, đến nay các lớp do cô giáo Mai phụ trách sĩ số học sinh đều duy trì ổn định, hàng năm tỉ lệ thi chuyển lớp, chuyển cấp đều đạt 98%, không có học sinh yếu kém. Niên khoá (2004-2005) lớp do cô Mai chủ nhiệm có 2 em đạt danh hiệu học sinh giỏi, 8 em đạt danh hiệu học sinh tiên tiến. Với những thành tích trong những năm qua cô giáo Bạch Thị Mai đã được ngành giáo dục, huyện, tỉnh ghi nhận với nhiều danh hiệu: giáo viên dạy giỏi, chiến sĩ thi đua cấp huyện. Đồng chí Sơn Ngọc Lê, Phó Phòng Giáo dục, Chủ tịch Công đoàn huyện Tùng Sán cho biết: Cô giáo trẻ dân tộc Klao Bạch Thị Mai, xứng đáng là tấm gương sáng trong sự nghiệp “gieo chữ, trồng người” ở huyện vùng cao Hà Giang.

Bình Minh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,663,999


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs