Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/12/2006
Luật tục với phát triển nông thôn vùng dân tộc, miền núi


Cán bộ Mặt trận làm công tác vận động quần chúng tại xã La Púch (huyện Chư Rông - Gia Lai)

Luật tục là sự quy định phép ứng xử của mọi người trong cộng đồng, là sự trừng phạt những tội phạm, là những quy ước về trách nhiệm đối với người đứng đầu và người già, là những điều cần phải làm, là bổn phận của mỗi người trong xã hội, là những quy tắc để bảo vệ đất đai, rừng núi, nguồn nước, gia súc… của cả cộng đồng.

Hầu hết các dân tộc thiểu số đều có luật tục, tuy nhiên, cho đến nay các nhà khoa học mới khai thác, ghi chép và hệ thống được luật tục của một số dân tộc. Đó là: phạt kđi của người Êđê, phạt kđuôi của người Mnông, tơlơi djuat của người Gia rai, adat mucar của người Raglai, dây tơ ron kđi của người Ba na, nri của người Srê (Kơho), ndri của người Mạ, hit khoảng của người Thái, adat của người Chăm…

Nội dung luật tục có tính tổng hợp bao hàm những chuẩn mực xã hội và hàng loạt khía cạnh cụ thể, đáp ứng yêu cầu duy trì, củng cố tính thống nhất và quan hệ cộng đồng của dân làng; nó có tác dụng chuẩn mực trong khuôn mẫu ứng xử và lề lối sinh hoạt xã hội, xác lập hệ thống tôn ti trật tự chung, chế định các mối liên hệ của con người trong quan hệ xã hội. Các luật tục đề cập đến nhiều mặt trong cuộc sống sinh hoạt thường ngày: quan hệ gia đình (hôn nhân, quan hệ nam nữ, cha mẹ với con cái, đính hôn, ly hôn, tội ngoại tình…), quan hệ với cộng đồng (các vi phạm lợi ích cộng đồng, về trật tự an ninh xã hội, không tôn trọng phong tục tập quán…), về tài sản và sở hữu (quan hệ sở hữu, khai hoang đất và quyền sở hữu ruộng đất, về của cải tài sản, tranh chấp tài sản, giải quyết nợ nần, về gia súc, đất đai…), những tội phạm về tình dục (tội giam dâm, loạn luân, những điều cấm kỵ…), những quy định chung về luật tục (các quy định mở đấu, về các tội và việc xét xử, các điều tổng quát, kết thúc một vụ việc…), về xâm phạm đến tính mạng (xâm phạm thân thể, tính mạng người khác, về các trọng tội, các tội giết người…), về vai trò của người đứng đầu làng (các tội xúc phạm đến già làng, trưởng thôn, về quan hệ với thủ lĩnh, các tội chống chủ làng…)…

Trong những năm gần đây, đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao đã phải đối mặt với những biến đổi to lớn, ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt cộng đồng nói chung và đến luật tục nói riêng. Đó là thay đổi quyền sở hữu đất rừng. Theo luật tục cổ truyền, tất cả rừng núi, đất đai, sông suối là của chung cộng đồng. Mọi người đều có quyền khai thác, sử dụng, thu hoạch lâm thổ sản. Ví dụ, ở Tây Nguyên sau giải phóng, các nông, lâm trường, cơ quan nhà nước đã khoanh vùng, phân chia đất trên diện tích đã có chủ truyền thống (của các buôn làng). Đó là việc chiếm dụng đất, rừng quá hạn, chiếm phần lớn diện tích tự nhiên (86% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh Đắc Lắc, trên 50% ở Gia Lai, Kon Tum, Lâm Đồng). Đó là nạn phá rừng, sự gia tăng đột biến về dân số do di dân tự do từ các nơi khác đến, những mặt tiêu cực của cơ chế thị trường tác động mạnh vào đời sống các dân tộc tại chỗ. Những người già, đặc biệt là chủ làng cảm thấy bị mất dần quyền lực. Lớp trẻ lại không quan tâm hiểu biết về luật tục. Đồng bào cảm thấy băn khoăn, hụt hẫng trong sự hội nhập vào xã hội hiện đại. Luật tục quy định về chế độ sở hữu và quyền sử dụng đất đang mất dần hiệu lực. Nhiều người dân tộc đã phản ứng bằng cách bỏ những phần đất rừng của mình, lùi dần vào các khu rừng xa xôi hẻo lánh để tiếp tục phát rẫy, gieo trồng.

Ngày nay, trước sức ép về gia tăng dân số, về nhu cầu đất đai và xu thế hội nhập với cuộc sống hiện đại đã ảnh hưởng ít nhiều đến tính tôn nghiêm của luật tục song ở phương diện nào đó khi pháp luật và các biện pháp giáo dục khác chưa phát huy tác dụng như mong muốn, thì việc khuyến khích và tạo điều kiện cho đồng bào sử dụng luật tục truyền thống sẽ mang lại hiệu quả đáng kể, đặc biệt là trong giải quyết vấn đề sở hữu và tranh chấp đất đai, chống nạn phá rừng và các tệ nạn xã hội… Là dạng di sản văn hoá phi vật thể nảy sinh từ yêu cầu quản lí trật tự cộng đồng, điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, luật tục đã góp phần giữ gìn những phong tục tập quán tốt đẹp của đồng bào các dân tộc thiểu số. Với sự đa dạng, sâu sắc, cụ thể của các điều luật, luật tục chẳng những bổ sung tích cực, hoàn thiện, đầy đủ hơn cho pháp luật nhà nước, mà còn là cơ sở để các quy ước, tiêu chuẩn xây dựng nếp sống văn hoá được tiếp cận, vươn tới tận gốc rễ của cuộc sống buôn làng. Luật tục đã đóng vai trò củng cố, gắn kết các thành viên trong buôn làng và cộng đồng, tạo cơ sở cho việc xây dựng cuộc sống chung hài hoà, nhân ái, đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau, nâng cao nhân cách con người.
Tuy nhiên, bên cạnh những điều luật tích cực, trong luật tục các dân tộc có không ít quy định trái với pháp luật nhà nước: nạn tảo hôn, kết hôn không có giấy giá thú, tục nối dây làm tan nát, đau khổ cho nhiều gia đình; để người chết lâu trong nhà, ăn uống trong ma chay mất vệ sinh, tổ chức lễ hội tốn kém, những quy định về phạt vạ thiếu thống nhất dẫn đến không công bằng, thậm chí mâu thuẫn với pháp luật, cách xét xử bằng đức tin vào thần linh làm oan sai người vô tội, quá tin vào thần thánh, mê tín dị đoan ảnh hưởng đến sản xuất. Luật tục còn chứa đựng các yếu tố bảo thủ, lạc hậu. Người dân tộc rất dè dặt, cẩn trọng khi tiếp xúc với những yếu tố lạ từ bên ngoài, kể cả cái tiến bộ; cái gì thuộc về truyền thống họ cho là hay và làm theo; một số điều gây tâm lý cục bộ, địa phương, hình thành tư tưởng “phép vua thua lệ làng”…

Để phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế yếu tố tiêu cực lạc hậu của luật tục các cơ quan nhà nước ở trung ương cần chỉ đạo, phối hợp, hỗ trợ các cơ quan nhà nước địa phương tiến hành đồng thời xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình văn hoá, tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội, giao thông, thông tin liên lạc, từng bước nâng cao dân trí, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần cho nhân dân. Từ cơ sở đó để từng bước xoá bỏ những tập tục lạc hậu, đưa những chuẩn mực đạo đức tiến bộ phù hợp với phong tục, tập quán của dân tộc.

Cần tổ chức lại cụm dân cư kết hợp với tổ chức lại chính quyền cơ sở, củng cố mối quan hệ giữa chính quyền cơ sở với nhân dân. Quy hoạch cụm dân cư phải gắn với phát triển sản xuất, điều kiện sinh hoạt theo 7 mục tiêu: điện, đường, trường, trạm, chợ, điểm văn hoá, thuỷ lợi.

Tiếp tục đẩy mạnh công việc sưu tầm, nghiên cứu xuất bản luật tục các dân tộc thiểu số. Chú ý tổng kết từ thực tế cách nhân dân tự điều chỉnh về nội dung luật tục và về cách thức tiến hành xét xử theo luật tục.

Với tinh thần “gạn đục khơi trong” lựa chọn những yếu tố tích cực của luật tục, nên chăng cần đưa luật tục vào sách giáo khoa vùng dân tộc và giảng dạy luật tục trong các trường học.

Cần in song ngữ các tài liệu về luật tục và phổ biến rộng rãi trong cộng đồng người dân tộc để cho các thế hệ trẻ đều biết được. Soạn thảo các tài liệu ngắn gọn gửi đến các xã, buôn làng để hướng dẫn việc tiếp tục phát huy luật tục, lựa chọn những điều luật chứa đựng yếu tố tích cực cần phát huy và cách tổ chức thực hiện.

Thường xuyên mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn cho các đối tượng là già làng, trưởng thôn, phó trưởng thôn, tổ trưởng, tổ phó tổ hoà giải ở các buôn làng về các kiến thức pháp luật. Tăng cường hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của Ban tư pháp, tổ hoà giải cơ sở.

Nhà nước cần tăng mức phụ cấp đối với cán bộ chính quyền xã và trưởng thôn ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, có thù lao nhất định đối với các già làng và những người làm công tác hoà giải ở cơ sở, để họ hăng hái hơn trong việc bảo lưu và phát triển thuần phong, mỹ tục của dân tộc trong cuộc sống hằng ngày (hiện nay, các già làng chưa có phụ cấp, chỉ thỉnh thoảng được đi tham quan, du lịch và tặng quà những ngày lễ, tết).

Cần tiếp tục xem xét, giải quyết mối quan hệ giữa pháp luật và luật tục, coi luật tục là sự bổ sung cho pháp luật, vì pháp luật không thể bao quát hết được mọi đặc thù của từng dân tộc. Nên xây dựng một bộ luật Dân tộc, trong đó có quy định những nguyên tắc chung về luật tục, những nguyên tắc sử dụng luật tục; nên có sự điều chỉnh hợp lý của Luật đất đai để xét xử các vụ tranh chấp đất đai, tạo tiền đề để điều hoà các mối quan hệ giữa các dân tộc, đơn vị nhà nước đóng trên địa bàn miền núi, đặc biệt là ở Tây Nguyên.

Cần nghiên cứu, hệ thống hoá phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số, chỉ ra được những quy định nào là phù hợp pháp luật và đạo đức xã hội, quy định nào là lạc hậu, trái pháp luật, để hướng dẫn bà con duy trì, phát huy phong tục, tập quán tốt, loại bỏ dần những hủ tục.

Tổ chức cho các buôn làng xây dựng các quy ước mới về nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, tăng cường phát huy dân chủ ở cộng đồng. Quy ước đó dựa vào những mặt tích cực của luật tục, thúc đẩy sự phát triển của buôn làng.

Duy trì và tăng cường vai trò của tổ hoà giải ở các bản làng. Các luật tục đều coi trọng vai trò của người xử kiện, hoà giải để dàn xếp mọi tranh chấp trong buôn làng. Khi có vụ việc nhỏ thì tổ hoà giải đứng ra giải quyết. Những vụ lớn đã có chính quyền, pháp luật. Cần sự vận dụng linh hoạt, sáng tạo của cơ sở, góp phần vào việc quản lí xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Đề nghị tất cả mọi người đang sống ở miền núi, kể cả cán bộ, bộ đội tuân thủ nội dung tích cực của luật tục - tức là tinh thần yêu quý núi rừng, sông suối, đất đai, nguồn nước, chim thú; tôn trọng phong tục tập quán của đồng bào dân tộc.

TS. Lưu Văn An
Học viện Báo chí và Tuyên truyền

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,664,010


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs