Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/12/2006
Công tác y tế ở Tây Nguyên


Chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc Êđê tại trạm y tế xã Dur Kmăn, huyện Krông Ana, tỉnh Đắc Lắc

Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông và Lâm Đồng với tổng diện tích tự nhiên 54.474 km2 (chiếm 16,3 diện tích cả nước), là một địa bàn có tính chiến lược cả về kinh tế, lẫn an ninh quốc phòng, có sự ảnh hưởng lớn đến sự ổn định và phát triển của đất nước. 

Hiện nay, Tây Nguyên có hơn 40 dân tộc chung sống những dân tộc thiểu số bản địa đã có mặt ở đây hàng ngàn năm nay, đó là: Ba Na, Gia Rai, Êđê, Xơ Đăng…

Toàn vùng Tây Nguyên hiện nay có 151 cơ sở y tế các loại, với tổng cộng 7600 giường bệnh, 9200 cán bộ, công nhân viên ngành y thuộc biên chế nhà nước. Trong đó tuyến tỉnh có 4 bệnh viện cấp tỉnh, tổng số 1820 giường, 3 bệnh viện đa khoa khu vực, 4 bệnh viện y học cổ truyền, 2 trung tâm phục hồi chức năng. Tuyến huyện có 46 bệnh viện (bình quân 60 giường/1 bệnh viện), 37 phòng khám đa khoa khu vực với tổng số 425 giường và một số trung tâm điều trị. Tuyến xã có 607 trạm y tế (100% các xã, phường, thị trấn có trạm y tế), tổng số 2366 giường, đạt 22 giường trên một vạn dân; trên 70% xã có bác sỹ. Trong vùng dân tộc thiểu số, mạng lưới y tế cộng đồng mở rộng đến các buôn, làng xa xôi hẻo lánh, có 1100 cán bộ y tế hợp đồng phục vụ các xã vùng III, thường xuyên có các bác sỹ chuyên khoa đến các bản, làng khám chữa bệnh miễn phí cho bà con dân tộc thiểu số. Hiện nay, có khoảng 1,43 triệu người được cấp thẻ chữa bệnh miễn phí, đã điều trị và phòng chống có hiệu quả một số bệnh xã hội như sốt rét, phong, bướu cổ (năm 2005 sốt rét giảm 80%, bướu cổ giảm 92%, bệnh hiểm nghèo ở trẻ em giảm 85% so với năm 2001). Hàng năm Đại học Tây Nguyên và Đại học Đà Lạt cùng với gửi đi đào tạo các trường đại học khác đã đào tạo thêm hàng trăm bác sỹ, cán bộ y tế nhằm tăng cường cho các tuyến xã, buôn, làng dân tộc thiểu số.

Đặc biệt, trong 3 năm từ 2002-2005 triển khai thực hiện Quyết định 139/2002-TTg ngày 10/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc khám chữa bệnh cho người nghèo, toàn vùng đã đạt được một số kết quả khả quan, số lượng người dân thuộc diện nghèo được khám, chữa bệnh ngày càng tăng, các dịch vụ khám chữa bệnh không những đáp ứng ở các vùng thành phố, thị xã, thị trấn mà còn đáp ứng đến tận các buôn, bản, những nơi cư trú của đồng bào dân tộc thiểu số.

Từ việc quan tâm đúng mức, có nhiều chủ trương, chính sách phù hợp, trong những năm qua thể lực của người dân Tây Nguyên đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số được tăng lên rõ rệt, dịch bệnh, các bệnh hiểm nghèo dần được đẩy lùi, kéo theo đó là sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý hơn. Tây Nguyên từ chỗ thiếu đất sản xuất (diện tích tự nhiên rộng lớn nhưng chủ yếu hoang hoá đồi núi) đến chỗ khai thác và sử dụng hợp lý và hiện nay Tây Nguyên nổi lên như một vùng có thế mạnh nông - lâm nghiệp. Giá trị sản xuất và giá trị tổng sản phẩm hàng năm của lĩnh vực nông - lâm nghiệp đã chiếm 50% trong cơ cấu chung, trong đó có một số cây trồng mang tính chủ lực, đứng đầu về diện tích và sản lượng so với các khu vực trong cả nước, như: cà phê 435.224 ha, cao su 108.500 ha, sắn 72.000 ha, hồ tiêu 13.461 ha, ngô 195.000 ha, điều 45.600 ha và đã hình thành nhiều vùng chuyên canh cây công nghiệp lớn như: Buôn Mê Thuột, Plây cu, Đắk Nông, Di Linh… Con người được đảm bảo về sức khoẻ, có điều kiện để lao động sáng tạo từ đó đã góp phần đưa tốc độ phát triển kinh tế của vùng tăng trưởng khá trong nhiều năm liên tục. Năm 2002: 7% đến năm 2005 khoảng 12%. Chính sự phát triển kinh tế đã tạo điều kiện để xoá đói, giảm nghèo. Trong 5 năm (2000-2005) toàn vùng đã xoá được 29.589 hộ dân tộc thiểu số đói nghèo, giảm tỷ lệ đói nghèo là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ từ 34,56% (2003) xuống còn 29,12% đầu năm 2005 và hiện nay còn khoảng 28,14% (theo tiêu chí cũ).

Bên cạnh những thành tựu đạt được trong công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ, khu vực Tây Nguyên còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn cần khắc phục, tháo gỡ. Các chương trình, chính sách về y tế và chăm sóc sức khoẻ chưa được triển khai một cách đồng bộ, hiệu quả còn thấp, đa số mới chỉ tập trung ở các thị xã, thị trấn, các vùng sâu, vùng xa; vùng đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chưa được triển khai sâu rộng. Đội ngũ y, bác sỹ toàn vùng còn mỏng, bình quân chung so với cả nước còn thấp (9200 y, bác sỹ/4,66 triệu dân), đội ngũ y, bác sỹ có trình độ chuyên môn cao rất ít; cơ sở khám chữa bệnh chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người dân, với tỷ lệ 22 giường bệnh/1 vạn dân là quá thấp. Đa số các trạm y tế ở các buôn làng nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chưa được xây dựng cơ bản, đường giao thông đi lại khó khăn ảnh hưởng đến việc khám, chữa bệnh cho đồng bào; đa số đồng bào dân tộc thiểu số sống du canh, du cư (hiện nay khoảng 2200 hộ) cho nên việc tập hợp quản lí khám chữa bệnh khó khăn, trình độ nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về chăm sóc sức khoẻ và khám, chữa bệnh còn yếu.

Để khắc phục những hạn chế nói trên và để công tác y tế và chăm sóc sức khoẻ trở thành nguồn lực nội sinh, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững, cho sự nghiệp xoá đói, giảm nghèo vững chắc, thiết nghĩ Tây Nguyên cần đồng thời và đồng bộ thực hiện các chính sách chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, các địa phương cần quán triệt và cụ thể hoá một cách sâu sắc những chủ trương, chính sách của Đảng trong việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo; cần tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm để tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các Chương trình 135/QĐ-TTg;132/QĐ-TTg, Chương trình 154/QĐ-TTg, Chương trình 134/QĐ-TTg, đặc biệt là Chương trình 139/QĐ-TTg.

Thứ hai: Tăng cường củng cố và hoàn thiện mạng lưới y tế cơ sở.

Đồng bào đồng bào dân tộc sống chủ yếu ở những vùng sâu, vùng xa, xa các cơ sở y tế lớn, hiện đại. Do vậy, cần phải xây dựng, củng cố mạng lưới y tế cơ sở, làm sao đảm bảo cho tất cả mọi người dù là ở xa xôi nhất đều có thể khám, chữa bệnh một cách thuận tiện. 

Thứ ba: Đào tạo và sử dụng nhân lực y tế. Toàn vùng Tây Nguyên hiện có lực lượng y tế so với cả nước rất thấp. Việc sử dụng nguồn nhân lực còn nhiều bất cập, do đó từ nay đến năm 2010 cùng với việc nâng cấp, đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật là đổi mới phương pháp đào tạo tại các trường trung học y tế ở các tỉnh, đặc biệt là 2 trung tâm lớn Đại học Tây Nguyên và Đại học Đà Lạt. Chuẩn hoá đội ngũ giáo viên, tăng cường đào tạo y sỹ đa khoa, sản khoa, y sỹ y học cổ truyền, nữ hộ sinh trung học và điều dưỡng viên để đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh cho đồng bào dân tộc thiểu số. Nguồn đào tạo nên tập trung lựa chọn tại thôn bản, có đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức, có lòng nhiệt tình và điều kiện hoạt động ổn định lâu dài tại thôn bản. Về đào tạo bác sỹ, trước mắt cần mở rộng việc đào tạo bác sỹ chuyên tu cho tuyến xã. Đào tạo bác sỹ dài hạn kết hợp giữa thi tuyển với cử tuyển theo địa chỉ. Các địa phương phải có trách nhiệm làm tốt công tác tuyển chọn và cử cán bộ đi học đúng đối tượng, có các chính sách thu hút bác sỹ trở về địa phương công tác sau khi được đào tạo. Về đào tạo sau đại học, các cơ sở y tế cần phối hợp với các trường đại học Y (Đại học Y Huế, Đại học Y - Dược thành phố Hồ Chí Minh…) tổ chức đào tạo chuyên khoa cấp I, cấp II, thạc sĩ ngay tại các tỉnh để một mặt học viên có điều kiện dễ dàng theo học, mặt khác góp phần trực tiếp vào việc nâng cao chất lượng điều trị của các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh.

Việc sử dụng nhân lực, trước hết cần sử dụng có hiệu quả, nguồn nhân lực y tế có sẵn ở địa phương, có chính sách ưu đãi, phụ cấp thích đáng cho những người về công tác ở vùng là đồng bào dân tộc thiểu số, tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Tăng cường cán bộ y tế về cơ sở công tác” do Bộ Y tế phát động năm 2000. Có chỉ tiêu đặc biệt cho việc tuyển dụng bác sĩ, nữ hộ sinh, y sĩ sản nhi, cán bộ dược, cán bộ y học cổ truyền cho các trạm y tế xã và những trạm y tế phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số.

Thứ tư: Tiếp tục đẩy mạnh công tác y tế dự phòng, nâng cao sức khoẻ giảm gánh nặng bệnh tật và tử vong. Tiếp tục triển khai tốt và mở rộng các chương trình, mục tiêu quốc gia về y tế để khống chế các bệnh xã hội, bệnh dịch nguy hiểm và các bệnh thường gặp ở người nghèo như: sốt rét, bướu cổ, phong, lao, tâm thần… có các biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của các dịch bệnh này. Đẩy mạnh thực hiện tốt chương trình hành động quốc gia về trẻ em Việt Nam và chiến lược chăm sóc sức khoẻ sinh sản giai đoạn 2001-2010. Bảo đảm cho tất cả trẻ em được hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cơ bản. Nâng cao chất lượng dinh dưỡng và dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em.

Thực hiện các biện pháp đề phòng và nhanh chóng khắc phục hậu quả về sức khoẻ do thiên tai gây ra. Triển khai và thực hiện tốt chính sách quốc gia về phòng chống tai nạn, thương tích và phòng chống tác hại của thuốc lá. Tăng cường kiểm tra, giám sát bảo đảm chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.

Tiếp tục đẩy mạnh lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế với xoá đói giảm nghèo, tăng cường công tác truyền thống giáo dục sức khoẻ, hạn chế tập tục lạc hậu và lối sống có hại cho sức khoẻ, không ngừng vận động, tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng, để mọi tổ chức xã hội, các đoàn thể nhân dân và mỗi người dân tự thay đổi hành vi theo hướng tích cực và tự nguyện tham gia công tác chăm sóc sức khoẻ cho bản thân, gia đình và cộng đồng.

Thứ năm: Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh, từng bước hoàn thiện, quy hoạch, nâng cấp mạng lưới khám chữa bệnh phù hợp với điều kiện địa lý và địa bàn dân cư nơi đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Củng cố và phát triển phòng khám đa khoa khu vực, trung tâm y tế huyện, bệnh viện khu vực, bệnh viện đa khoa và chuyên khoa tuyến tỉnh để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân là dân tộc thiểu số. Không ngừng nâng cao y đức, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, nguồn tài chính và nhân lực cho các chuyên khoa trọng điểm ở tuyến huyện như nội, ngoại, sản, nhi, hồi sức cấp cứu, xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh. Cung cấp đủ thuốc, đặc biệt là thực hiện tốt chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển đối với thuốc chữa bệnh. Tiếp tục duy trì và thực hiện tốt chính sách cung cấp thuốc miễn phí cho những xã đặc biệt khó khăn.

Thứ sáu: Tăng cường phối hợp thực hiện hiệu quả chương trình quân - dân - y kết hợp, trong đó lực lượng bộ đội biên phòng là nòng cốt gắn bó mật thiết với nhân dân, hướng dẫn nhân dân làm kinh tế, học văn hoá và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân.

Lê Văn Phục
Học viện Chính trị Khu vực III

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,664,130


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs