Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 06/12/2006
Xoá đói, giảm nghèo phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số ở nước ta


Bà con nông dân dân tộc Tày ở Văn Bán - Lào Cai tích cực chăm sóc ngô vụ đông

Sau 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng, lãnh đạo, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, bộ mặt của đất nước thay đổi rõ rệt, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện đáng kể.

Thành tựu tiêu biểu nhất của Việt Nam trong những năm gần đây được dư luận trong và ngoài nước ghi nhận và đánh giá cao là công cuộc xoá đói, giảm nghèo. Tại báo cáo phát triển Việt Nam năm 2004 của Liên hợp quốc đã coi “những thành tựu giảm nghèo của Việt Nam là một trong những việc thành công nhất trong phát triển kinh tế”.

Những năm 2001-2004, tỷ lệ giảm nghèo đói nhanh (từ 17,2% năm 2001 với 2,8 triệu hộ, xuống còn 8,3% năm 2004 với 1,44 triệu hộ), bình quân mỗi năm giảm nghèo được 34 vạn hộ, một con số rất đáng trân trọng. Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội thì đến cuối năm 2004 cả nước có: 2 tỉnh, thành phố cơ bản không còn hộ nghèo; 18 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn từ 3-5%; 24 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn từ 5-10%; 15 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn từ 10-15%; 3 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo còn từ 15-20%; 2 tỉnh tỷ lệ hộ nghèo trên 20%.

Tính đến cuối năm 2005, nước ta còn khoảng 1,1 triệu hộ (dưới 7% tổng số hộ trong cả nước) thuộc diện nghèo.

Do đặc thù của các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, với những điều kiện, nguyên nhân khách quan lịch sử để lại và cả những nguyên nhân chủ quan, các vùng này vẫn là nơi có tỷ lệ hộ nghèo đói cao nhất so với các vùng trong cả nước. Đối tượng tác động, thực hiện và thụ hưởng các Chương trình 133 (Chương trình xoá đói giảm nghèo), Chương trình 135 (Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn) cũng tập trung chủ yếu ở các vùng nêu trên. Sau 7 năm thực hiện Chương trình 135 các vùng nông thôn, miền núi, vùng dân tộc thiểu số đã xây dựng được trên 25.000 công trình hạ tầng cơ sở kinh tế - xã hội cùng với 498 trung tâm cụm xã. Trên thực tế đã đưa vào sử dụng trên 20.000 công trình kể trên và trên 200 trung tâm cụm xã đã đi vào hoạt động.

Do phát triển sản xuất theo hướng mở rộng kinh tế hàng hoá, chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn… trên địa bàn thuộc Chương trình 135 đã không còn hộ đói kinh niên, tốc độ giảm nghèo nhanh, bình quân mỗi năm giảm từ 4-5% số hộ nghèo. Nếu tính từ trước năm 1998 (trước khi có Chương trình 135) thì tỷ lệ hộ nghèo đói bình quân trên toàn địa bàn thuộc chương trình chiếm tới 60% số hộ, đến năm 2005 chỉ còn 20% số hộ. ở một số địa phương, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 7-8%.

Thành quả của việc xoá đói, giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong thời gian qua đã thể hiện trên một số điểm cần được khẳng định. 

Thứ nhất, thông qua việc thực hiện Chương trình xoá đói giảm nghèo, gắn trực tiếp với Chương trình hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn, đã tạo ra những cơ hội để người nghèo tiếp cận các dịch vụ sản xuất, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, giảm nghèo.

Những “cơ hội” đó thể hiện thông qua các chủ trương, chính sách giúp đỡ hộ nghèo, vùng nghèo như: Chính sách tín dụng ưu đãi hộ nghèo, trong 4 năm (2001-2004) ngân hàng đã cho 3,573 triệu lượt hộ vay vốn. Dư nợ cho vay hộ nghèo đến 31/12/2004 đạt đến 11.600 tỷ đồng, đã có khoảng 75% số hộ nghèo vay vốn, chiếm 15,8% tổng số hộ trong cả nước. Để thực hiện chính sách cho vay ưu đãi, nhà nước đã cấp bù chênh lệch lãi suất với số tiền là 1782 tỷ đồng. Phần lớn hộ nghèo sử dụng vốn vay có hiệu quả, góp phần tích cực mua sắm thêm các phương tiện, công cụ sản xuất như trâu, bò, ngựa máy cày…

Cùng với tín dụng ưu đãi hộ nghèo là việc thực hiện chính sách hỗ trợ đất sản xuất cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở các vùng Tây Nguyên, Tây Bắc, Tây Nam bộ. ở Tây Nguyên đã hỗ trợ 5.139 ha đất cho 10.455 hộ. Các tỉnh thuộc miền Tây Nam bộ như Đồng Tháp, Trà Vinh, Sóc Trăng… đã hỗ trợ cho 4.325 hộ nghèo vay để chuộc lại đất sản xuất đã bị cầm cố hoặc đã nhượng, bán; các tỉnh Tây Bắc đã hỗ trợ vốn khai hoang cho đồng bào các dân tộc thiểu số, mở rộng diện tích ruộng bậc thang…

Việc khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư cho người nghèo cũng được chú trọng nhằm chuyển giao kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất cho người nghèo, góp phần xoá đói, giảm nghèo, phát triển bền vững. Đã tổ chức trên 50.000 lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật và trên 6.000 mô hình trình diễn giống cây, con có năng suất cao cho trên 2 triệu lượt hộ nghèo.

Việc phát triển ngành nghề cũng đã được chú trọng để tạo ra cơ hội xoá đói giảm nghèo, phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Trong 5 năm đã xây dựng được 103 mô hình về bảo quản, chế biến nông lâm sản và phát triển ngành nghề ở nông thôn cho 37 địa phương trong đó có 52 mô hình chế biến lâm sản và 44 mô hình ngành nghề tiểu thủ công. Đây chính là những chủ trương đúng góp phần tích cực vào việc xoá nghèo, phát triển bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Việc thực hiện các dự án xây dựng mô hình xoá đói, giảm nghèo phù hợp với từng vùng, từng địa phương, từng dân tộc thiểu số cũng đã được thực hiện và đạt hiệu quả. Các địa phương đã xây dựng mô hình xoá đói, giảm nghèo tại 83 xã thuộc 20 tỉnh với sự tham gia của 40.000 hộ, trong đó 55% là hộ nghèo, 64 xã thực hiện dự án xây dựng mô hình liên kết giữa doanh nghiệp với các hộ nghèo và các xã phát triển vùng nguyên liệu. Một số địa phương đã xây dựng mô hình xoá đói, giảm nghèo ở 19 xã đặc thù thuộc 3 vùng sinh thái (vùng cao của đồng bào dân tộc thiểu số Lai Châu, Lào Cai; vùng ngập lũ sâu của Đồng Tháp và vùng bãi ngang ven biển Thanh Hoá).

Với hình thức liên kết này đã huy động được nguồn vốn khá lớn phục vụ cho xoá đói, giảm nghèo, giúp cho các hộ nghèo vươn lên thoát nghèo và phát triển bền vững. Nguồn vốn huy động cho mô hình này lên tới 170 tỷ đồng, trong đó ngân sách trong vùng hỗ trợ 20 tỷ, phần còn lại là do các doanh nghiệp và dân chúng đóng góp.

Các dự án hỗ trợ về cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, định canh định cư và tái định cư, ổn định dân cư, xây dựng các vùng kinh tế mới cũng đã và đang góp phần vào việc thực hiện xoá đói, giảm nghèo các vùng dân tộc thiểu số và miền núi. 

Thứ hai, đã lôi cuốn toàn xã hội tích cực tham gia hỗ trợ vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, xoá đói, giảm nghèo, huy động được nhiều nguồn lực phục vụ cho mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển bền vững các vùng dân cư đã nêu.

Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi có Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương (khoá IX) về công tác dân tộc, việc xoá đói, giảm nghèo, phát triển toàn diện về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã lôi cuốn sự tham gia của nhiều cấp ngành, của nhiều địa phương trong cả nước. Tổng nguồn vốn phục vụ cho mục tiêu xoá đói, giảm nghèo trong 5 năm (bao gồm các chương trình trong nước và các dự án hợp tác quốc tế) đạt khoảng 41 tỷ đồng. Riêng nguồn vốn phục vụ trực tiếp cho xoá đói, giảm nghèo đạt 21 nghìn tỷ đồng, trong đó ngân sách trung ương chiếm 3 nghìn tỷ (14,28%), ngân sách địa phương là 2,5 nghìn tỷ (11,9%), huy động từ cộng đồng là 1,5 nghìn tỷ (7,14%), từ lồng ghép các chương trình, dự án chiếm 2 nghìn tỷ đồng (9,52%) và vốn tín dụng 12 nghìn tỷ đồng (57,14%). 

Thứ ba, thành quả xoá đói, giảm nghèo ở các vùng dân tộc thiểu số đã góp phần tích cực vào việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, đoàn kết các dân tộc, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam.

Do đặc thù của vấn đề dân tộc, quan hệ tộc người trên thế giới… những thế lực thù địch luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, lợi dụng cả những hạn chế, yếu kém của chúng ta trong thực hiện chính sách dân tộc nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, gây bạo loạn, lật đổ, phá hoại an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở các vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo… Thành quả xoá đói, giảm nghèo thuộc các vùng vừa nêu là minh chứng cho sự đúng đắn, hợp lòng dân của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Thành quả đó cũng góp phần tích cực vào việc củng cố, tăng cường khối đại đoàn kết giữa các dân tộc trong quốc gia đa dân tộc Việt Nam.

Để tiếp tục xoá đói, giảm nghèo, phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số và miền núi nước ta trong giai đoạn tới cần làm rõ nguyên nhân, thực trạng của vấn đề và tập trung giải pháp.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khoá IX đánh giá: ở nhiều vùng dân tộc và miền núi, tỷ lệ đói nghèo hiện còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng.

Trong văn kiên Đại hội X của Đảng, bên cạnh việc ghi nhận rằng công tác xoá đói, giảm nghèo được đẩy mạnh bằng nhiều hình thức và biện pháp thiết thực làm giảm tỷ lệ hộ nghèo đến cuối năm 2005 còn dưới 7% (theo tiêu chí cũ), đồng thời cũng đã đánh giá: Thành tựu xoá đói, giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn. Chênh lệch về mức thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân, giữa các vùng có xu hướng tăng.

Theo số liệu thống kê của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, tỷ lệ hộ nghèo tính đến cuối năm 2004 (theo chuẩn cũ) tại vùng Đông Bắc 10,36%; Tây Bắc 14,88%; Đồng bằng Sông Hồng 6,13%; Bắc Trung bộ 13,23%; Duyên hải Nam Trung bộ 9,56%; Tây Nguyên 11,03%; Đông Nam bộ 2,25%; Đồng bằng sông Cửu Long 7,4%. Trong đó tỉ lệ hộ dân tộc thiểu số nghèo chiếm 36% trong tổng số hộ nghèo của cả nước. Nếu tính theo chuẩn nghèo mới thì số hộ nghèo còn cao hơn rất nhiều.

Thực trạng trên do nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan. Song nguyên nhân chính là nhận thức và chỉ đạo điều hành của một số địa phương, cơ sở, của cán bộ đảng viên chưa thật đầy đủ, sâu sắc; trách nhiệm chưa cao; tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào sự hỗ trợ của nhà nước của một số cán bộ, đảng viên và một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số đã làm hạn chế sự năng động, sáng tạo phát huy tiềm năng của từng vùng, từng dân tộc. Một số cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập, chưa tạo ra được cơ chế phối hợp lồng ghép giữa các chương trình, dự án. Một số địa phương chưa xác định đúng nguyên nhân trực tiếp nhất dẫn đến đói nghèo hoặc tái nghèo ở địa phương nên chưa có những giải pháp phù hợp, có một số địa phương cán bộ lại mắc bệnh thành tích đã khống chế tỷ lệ nghèo thấp hơn so với thực tế, làm cho một bộ phận hộ nghèo chưa kịp tiếp cận các chủ trương, chính sách, các cơ hội để xoá đói, giảm nghèo bền vững; theo đó là sự hạn chế trong năng lực điều hành của đội ngũ cán bộ chủ chốt cấp cơ sở ở nhiều vùng dân tộc thiểu số…

Để tiếp tục thực hiện xoá đói, giảm nghèo, phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cần thực hiện tốt các nhóm giải pháp cấp bách sau đây:

Nhóm giải pháp về nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân các vùng đồng bào dân tộc thiểu số cần tổ chức thực hiện bằng mọi hình thức, huy động các phương tiện truyền thông, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đặc biệt là tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ nhân dân quyết tâm phát huy nội lực xoá đói, giảm nghèo bền vững vươn lên làm giàu. Kiên quyết đấu tranh khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại.

Nhóm giải pháp về đổi mới cơ chế chính sách. Trong đó về cơ chế phải bảo đảm công khai, dân chủ, tăng cường sự tham gia, giám sát, thực hiện từ cơ sở; đa dạng hoá các nguồn lực; thực hiện cơ chế khuyến khích hỗ trợ trên một số lĩnh vực cụ thể nhằm đẩy mạnh phân cấp trong tổ chức, quản lí, thực hiện chương trình dự án cho các địa phương cơ sở. Về chính sách, thực hiện thường xuyên các chính sách ưu đãi về lãi suất trong tín dụng, chính sách hỗ trợ cho con em đồng bào dân tộc thiểu số về giáo dục - đào tạo, chính sách tạo nghề, mở rộng việc làm, chính sách hỗ trợ các hộ nghèo về đất sản xuất, nước sinh hoạt, chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội, văn hoá-xã hội, chính sách với cán bộ dân tộc thiểu số…

Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện cần tập trung tăng cường lãnh đạo của các cấp uỷ đảng, sự điều hành chỉ đạo sâu sát của các cấp chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể quần chúng vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo. Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác xoá đói, giảm nghèo; xây dựng các mô hình xoá đói, giảm nghèo phát triển bền vững; sự phối hợp đồng bộ của các ngành các cấp, sự lồng ghép các chương trình, dự án, phục vụ cho mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, phát triển bền vững các vùng dân tộc thiểu số.

PGS.TS Nguyễn Quốc Phẩm
Viện trưởng Viện CNXHKH
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,664,217


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs