Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 05/12/2006
Chính phủ quyết định kéo dài thời gian thực hiện Quyết định 134 đến hết năm 2008

LTS: Quyết định 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ tập trung đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, biên giới (Chương trình 135). Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg ngày 20/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ tập trung giải quyết đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo đời sống khó khăn. Đó là những quyết định cụ thể, thể hiện quyết tâm thực hiện thắng lợi Chương trình quốc gia xoá đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta.

Để góp phần vào kết quả thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ trong thời gian tới, Tạp chí Dân tộc xin giới thiệu kết quả cùng những giải pháp trong triển khai thực hiện của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, của tỉnh miền núi Lai Châu và ở huyện Giồng Riềng tỉnh Kiên Giang để các bộ, ngành và địa phương tham khảo.

Thực hiện cấp đất sản xuất theoQuyết định 134/CP 

Ngày 20/7/2004, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sạch sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn. Đây là một quyết định quan trọng thể hiện chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta đối với đời sống đồng bào các dân tộc, nhất là các hộ nghèo. Quyết định 134 có ý nghĩa to lớn trong việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) của Đảng về công tác dân tộc và chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết này. Sự quan tâm đặc biệt đó đã được các bộ, ngành, các địa phương khẩn trương triển khai thực hiện, bước đầu đã đạt được những kết quả nhất định, dù còn nhiều khó khăn vướng mắc về cơ chế. 

Qua tổng hợp báo cáo của các địa phương, tổng số hộ trong diện đối tượng của Quyết định 134 cần được hỗ trợ đất sản xuất là 237.616 hộ với tổng diện tích là 73.535 ha. Nhu cầu vốn hỗ trợ của nguồn ngân sách Trung ương của các địa phương để giải quyết đất sản xuất là 450,9 tỷ đồng.

Sau hai năm thực hiện tại 46/51 tỉnh được cấp vốn, tính đến tháng 6 năm 2006, mới có 32.811 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo và khó khăn được hỗ trợ đất sản xuất, đạt 14% tổng số hộ, với diện tích 11.500 ha đạt 14%. Kinh phí cấp cho các địa phương để tạo quỹ đất sản xuất hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số mới chỉ có 41,58 tỷ đồng, đạt 9,2% nhu cầu vốn hỗ trợ. Kết quả thực hiện ở các vùng như sau: Vùng Đông Bắc đạt 32% về số hộ, 30% về diện tích và 20% về kinh phí; vùng Tây Nguyên đạt 31% hộ, 33% diện tích, 15% kinh phí; Tây Bắc đạt 16% hộ, 12% diện tích, 14% kinh phí; Bắc Trung bộ đạt 7% hộ, 9% diện tích, 16% kinh phí; Duyên hải Nam Trung bộ đạt 6% hộ, 12% diện tích, 9% kinh phí; Đông Nam bộ đạt 10% hộ, 17% diện tích 28% kinh phí. Riêng đối với các tỉnh thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cho đến nay chưa thực hiện được việc giao đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo vì chưa có chính sách đặc thù riêng. Một số địa phương đạt kết quả cao về việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số như Đắc Nông đạt 72,6% về số hộ, 66% về diện tích; Đà Nẵng 67,9% hộ (thông qua giao đất lâm nghiệp); Quảng Trị 59,9%, 41,7% diện tích; Bình Phước 46,8% số hộ, 56,1% về diện tích.

Bên cạnh đó, có rất nhiều địa phương còn lúng túng trong việc giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc. Do vậy, trong 2 năm qua mới chỉ hoàn thành bước lập phương án giải quyết đất sản xuất, hoặc mới chỉ thực hiện được việc giao đất cho một vài hộ, như Sơn La, Thái Nguyên, Bắc Giang, Hoà Bình, Cao Bằng ở miền núi phía Bắc; Ninh Bình ở đồng bằng sông Hồng; Thừa Thiện Huế ở vùng Duyên hải Nam Trung bộ. Với tiến độ triển khai thực hiện như vậy mục tiêu đặt ra trong Quyết định 134/2004/QĐ-TTg là “đến cuối năm 2006 phải cơ bản thực hiện xong các chính sách quy định tại Quyết định này” sẽ không thể đạt được đối với chính sách giao đất sản xuất. Đến nay, vẫn còn 204.805 hộ (chiếm 86% tổng số hộ) chưa được hỗ trợ về đất sản xuất, trong đó vùng Đông Bắc với 29.621 hộ, Duyên hải miền Trung 29.029 hộ, Bắc Trung bộ 28.650 hộ, Tây Bắc 24.897 hộ, Tây Nguyên 20.489 hộ, Đông Nam bộ 7.467 hộ.

Để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc từ cơ chế, từ thực tế triển khai tại các địa phương trong cả nước, hướng giải quyết hỗ trợ đất sản xuất cho những đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thiếu đất sản xuất là phát triển nghề rừng, giao rừng, khoán bảo vệ rừng, giúp cho đồng bào thu lợi được từ rừng. Để có cơ sở giao rừng, khoán bảo vệ rừng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức hướng dẫn các địa phương quy hoạch rừng, tiến hành phân loại rừng để có biện pháp quản lí phù hợp với từng loại rừng. Trong 2 năm qua, Đà Nẵng là địa phương thực hiện tốt việc giao đất lâm nghiệp cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thuộc đối tượng 134. Đến hết tháng 6 năm 2006 thành phố Đà Nẵng đã giải quyết đất sản xuất cho 108 hộ trong tổng số 159 hộ, đạt 68%, với diện tích 357,16 ha.
Các tỉnh Tây Nguyên đã đẩy mạnh việc thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng. Kết quả đã hoàn thành 4 mô hình thí điểm giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số thuộc đối tượng 134 tại 4 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc và Đắc Nông) với diện tích 8.545 ha; hoàn thành việc xây dựng và phê duyệt Đề án giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở 5 tỉnh Tây Nguyên với 109.324 ha cho 5.940 hộ, trong đó: Tỉnh Kon Tum số hộ có nhu cầu là 2.284 hộ tương ứng 51.000 ha, trong đó đã giao khoán bảo vệ rừng 34.152 ha; giao rừng và đất lâm nghiệp 17.143 ha; tỉnh Gia Lai số hộ có nhu cầu là 584 hộ, tương ứng với 15.540 ha; trong đó giao khoán bảo vệ rừng 7.510 ha, giao rừng và đất lâm nghiệp 8.030 ha; tỉnh Đắc Lắc số hộ có nhu cầu là 1.013 hộ, tương ứng với 19.300 ha; trong đó giao khoán bảo vệ rừng 12.300 ha, giao rừng và đất lâm nghiệp 7.000 ha; tỉnh Đắc Nông số hộ có nhu cầu là 89 hộ, tương ứng với 1.620 ha; trong đó khoán bảo vệ rừng 1.620 ha; tỉnh Lâm Đồng số hộ có nhu cầu là 1.970 hộ, tương ứng với 21.569 ha; trong đó khoán bảo vệ rừng 46.712 ha.

Mặc dù đã qua hai năm triển khai thực hiện nhưng việc hỗ trợ đất sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo còn chậm do giải quyết đất sản xuất là khâu khá phức tạp từ việc xác định đối tượng, xác định quỹ đất và phương án giải quyết đất, cho đến việc giao cấp đất phải qua nhiều giai đoạn và trình tự theo đúng quy định, nên hầu hết các địa phương lập đề án chậm, lúng túng về xác định đối tượng, kinh phí lập không sát với thực tế, phải làm đi làm lại nhiều lần. Việc xác định đối tượng được hưởng chính sách còn trùng lặp tên các hộ, những hộ đã đi khỏi địa phương nhưng vẫn được đưa vào đề án… Một số địa phương quản lí đất đai không chặt chẽ, nhiều trường hợp đồng bào dân tộc đã bao chiếm đất và sử dụng từ nhiều năm nay nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng khi kê khai thì vẫn ghi là không có đất; Nguồn quỹ đất sản xuất để giải quyết rất hạn chế. Những nơi gần khu tập trung đông dân cư không còn quỹ đất để khai hoang, hoặc nếu có đất lại là đất trống, đồi núi trọc, đất dốc, đất bị xâm canh, đất đang xảy ra tình trạng tranh chấp, đất đưa vào chuyển đổi mục đích sử dụng không đúng đối tượng, đất dự kiến thu hồi của các doanh nghiệp đang còn nhiều vướng mắc. Nhìn chung, quỹ đất sản xuất gần khu dân cư, thuận lợi cho sản xuất để giao cho đồng bào hầu như không còn.

Đối với đất sản xuất nông nghiệp được chuyển đổi từ đất lâm nghiệp, từ rừng nghèo kiệt thì thường là đất xấu, bạc màu, cần đầu tư thâm canh lớn, mất nhiều công sức nên khó có thể đưa vào sử dụng có hiệu quả ngay trong lúc trình độ và khả năng của đồng bào có hạn.
Đa số diện tích vườn cây cà phê của các nông trường đã ký hợp đồng khoán hoặc liên doanh, liên kết với các hộ. Các hộ nhận khoán đã đầu tư đáng kể cho vườn cây, nếu thu hồi vườn cây để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số thì phải tính toán giá cả phù hợp bởi người có đất vườn yêu cầu mức đền bù sẽ cao hơn nhiều so với quy định hiện hành.

Đề án sắp xếp đổi mới và phát triển nông lâm trường quốc doanh của các tỉnh mới được phê duyệt, chưa có phương án cụ thể, việc rà soát diện tích quản lí không sử dụng hoặc quản lí sử dụng không hiệu quả để giao lại cho địa phương chậm thực hiện, nên quỹ đất để giải quyết nhiều khó khăn.

Nhiều tỉnh đã chủ động đề ra các biện pháp để giải quyết đất sản xuất cho bà con như: Mua, sang nhượng đất lúa 1 vụ, 2 vụ, đất màu và vườn cây công nghiệp; chuyển sang di dân nội tỉnh đến vùng còn quỹ đất hoang; tuy nhiên, kế hoạch di chuyển một bộ phận dân cư ra khỏi thành phố và các huyện không còn quỹ đất khai hoang đến địa phương còn quỹ đất chưa thực hiện được…

Hiện nay, vẫn còn một số chính sách chưa được hướng dẫn một cách cụ thể hoặc sửa đổi, bổ sung phù hợp và kịp thời như: Chính sách hỗ trợ về đất sản xuất cho đồng bào dân tộc Khmer ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Chính sách thu hồi đất sản xuất của nông, lâm trường để giao cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo theo Quyết định 146/2005/QĐ-TTg chưa phù hợp với Nghị định 170/2004/NĐ-CP ngày 22/9/2004 của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển nông trường quốc doanh, Nghị định 200/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về tiếp tục sắp xếp, đổi mới phát triển lâm trường quốc doanh cũng như thiếu các điều khoản về thu hồi đất đã giao khoán cho hộ gia đình. Mức hỗ trợ khai hoang bình quân 5 triệu đồng/ha là thấp, với những địa phương còn đất khai hoang thì mức hỗ trợ này là không thể thực hiện được. Cùng với những khó khăn về nguồn quỹ đất, về chính sách, hai năm qua nguồn vốn Trung ương hỗ trợ cho các địa phương để thực hiện Quyết định 134 còn thấp hơn nhiều so với nhu cầu thực tế; hơn nữa, rất nhiều tỉnh rất khó khăn trong việc cân đối vốn đối ứng 20% từ nguồn ngân sách địa phương cho việc triển khai giao đất sản xuất, vì các tỉnh này đều là tỉnh nghèo chưa có khả năng tự cân đối được ngân sách, hàng năm Ngân sách Trung ương phải hỗ trợ 70-80%. Mặt khác một số nơi có nguồn quỹ đất nhưng phân tán nhỏ lẻ dẫn đến việc khảo sát, khai hoang, áp dụng thuỷ lợi nâng cao hiệu quả sử dụng đất gặp rất nhiều khó khăn. Những nơi chân đất cao, việc canh tác khó khăn, khó chủ động nguồn nước, về lâu dài dễ sói mòn bạc màu. Việc sử dụng đất sau khi được giao vào sản xuất chưa được tốt, nhiều nơi còn bỏ hoang chưa đưa vào sản xuất; công tác khuyến nông, chọn cây trồng thích hợp cho từng vùng đất còn bất cập; đặc biệt là vùng đất khai hoang xa khu dân cư, diện tích cấp thêm cho mỗi hộ ít, đi lại sản xuất xa, khó khăn nên người dân chưa yên tâm sản xuất, hiệu quả sử dụng đất kém.

Để thực hiện tốt nhiệm vụ giải quyết đất sản xuất và sử dụng có hiệu quả đất sản xuất được giao theo Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ giải pháp để tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong thời gian tới cần tập trung vào một số việc sau:

Tích cực tạo quỹ đất để giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo thực sự có nhu cầu về đất sản xuất, muốn vậy cần phân loại các hộ không có đất và thiếu đất sản xuất để có giải pháp phù hợp.

Mặt khác, tiếp tục rà soát đất đai các nông, lâm trường quốc doanh, chuyển đổi mục đích sử dụng đất lâm nghiệp của những khu rừng nghèo kiệt sang đất nông nghiệp để tạo quỹ đất giao cho các đối tượng thuộc Quyết định 134. Khai hoang phục hoá các diện tích đất có thể khai thác sử dụng được, kết hợp với đầu tư cơ sở hạ tầng, các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ để bà con có thể canh tác có hiệu quả. Trong thời gian tới cần nâng mức hỗ trợ khai hoang từ 5 triệu/ha lên 8 triệu/ha.

Nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung một số chính sách thay thế chính sách hỗ trợ đất sản xuất. Đề nghị Chính phủ cho phép mở rộng phạm vi áp dụng Quyết định 231/2005/QĐ-TTg ngày 22/9/2005 trên địa bàn cả nước. Quyết định 231 của Thủ tướng Chính phủ quy định 4 chính sách khuyến khích các doanh nghiệp nông, lâm trường sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số vào làm việc. Qua thời gian thực hiện ở 5 tỉnh Tây Nguyên đã nhanh chóng được các doanh nghiệp đón nhận và thu hút được nhiều lao động vào làm việc, tháo gỡ được nhiều khó khăn cho các địa phương do không còn quỹ đất để giao cho đồng bào. Mặt khác cuộc sống của các hộ có lao động vào làm việc tại các doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể, nhất là lao động vào làm việc tại các công ty cao su nhờ thu nhập cao. Các công ty cao su, cà phê hoan nghênh chủ trương trên vì vườn cây tiếp tục được quản lí và phát huy hiệu quả kinh tế.
Khuyến khích các doanh nghiệp cao su, cà phê, lâm nghiệp thực hiện việc giao khoán vườn cây cho lao động là đồng bào dân tộc thiểu số quản lí để tạo điều kiện nâng cao thu nhập cho các hộ đồng bào, trong đó ưu tiên cho các đối tượng thuộc Quyết định 134. Mở rộng thí điểm giao rừng, khoán bảo vệ rừng cho hộ gia đình và cộng đồng trong buôn, làng là đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ ở các tỉnh Tây Nguyên theo Quyết định 304/2005/QĐ-TTg ngày 23/11/2005 của Thủ tướng Chính phủ được thực hiện trong cả nước. Mức khoán bảo vệ rừng đã được nâng lên từ 50.000 đồng/ha lên 100.000 đồng/ha.

Quyết định 1143/QĐ-TTg ngày 31/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc tạm ứng vốn cho các tỉnh Tây nguyên để đầu tư xây dựng các công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ thật sự cấp bách phục vụ đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa. Đây là một biện pháp quan trọng để hỗ trợ cho đồng bào tăng vụ, tăng năng suất cây trồng trên diện tích đã có mà không phải nhận thêm phần đất bị thiếu, đây là một giải pháp quan trọng đối với các địa phương không còn quỹ đất hiện nay. Đề nghị Chính phủ xem xét cho phép một số địa phương không còn quỹ đất sản xuất được thực hiện theo Quyết định trên.

Hỗ trợ chuyển đổi cơ cấu sản xuất, chú trọng phát triển chăn nuôi và sản xuất cây có giá trị hàng hoá gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm. Theo đó, các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo không có hoặc thiếu đất sản xuất tự nguyện không nhận thêm đất sản xuất mà chuyển sang sản xuất chăn nuôi hoặc chuyển sang thâm canh sản xuất cây có giá trị hàng hoá gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm theo các đề án sản xuất được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt thì được nhận tiền hỗ trợ khai hoang bình quân 5 triệu đồng/1ha phần đất thiếu so với mức giao đất tối thiểu tại điểm 1, điều 2 Quyết định 134/2004/QĐ-TTg để hỗ trợ con giống hoặc cây giống, phân bón, vật tư nông nghiệp, chế biến tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và vẫn được hưởng các hỗ trợ khác trừ đất sản xuất theo Quyết định 134.

Đẩy mạnh việc đào tạo nghề cho người dân ở các vùng nông thôn, miền núi, đặc biệt là các đối tượng thuộc 134. Khuyến khích và hỗ trợ vốn để chuyển đổi nghề phi nông nghiệp nhằm giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho đồng bào ở nơi thiếu nguồn quỹ đất sản xuất. Hỗ trợ cho các lao động là đồng bào dân tộc thiểu số để tham gia thị trường xuất khẩu lao động. Để tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đề nghị Thủ tướng Chính phủ cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo không có hoặc thiếu đất sản xuất, có lao động đủ tiêu chuẩn sức khoẻ và trình độ, tự nguyện tham gia xuất khẩu lao động, tự nguyện không nhận đất sản xuất thì được cấp 5 triệu đồng/lao động/hộ.

Tăng cường đầu tư cho khoa học công nghệ để thúc đẩy sản xuất phát triển nông - lâm nghiệp ở các vùng miền núi, vùng khó khăn. Trước mắt, tiếp tục triển khai các chương trình giống cây trồng, vật nuôi; ứng dụng công nghệ sinh học; phát triển mạnh công nghệ bảo quản và chế biến nông lâm sản. Chú trọng đầu tư nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ chuyên biệt theo từng vùng dân tộc, miền núi.

Tăng cường hệ thống khuyến nông, khuyến lâm ở cơ sở, đảm bảo đến cuối năm 2007 mỗi xã có ít nhất 01 cán bộ khuyến nông chuyên trách, các thôn/bản ở những xã đặc biệt khó khăn có cộng tác viên về khuyến nông.

Triển khai và nhân rộng các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng và vật nuôi ở các vùng đặc thù như vùng đất dốc, đất cát… để tạo điều kiện cho đồng bào dân tộc thiểu số có thể sử dụng hiệu quả một số diện tích đất đặc thù.

Phát triển cơ sở hạ tầng nông nghiệp - nông thôn, đổi mới và nâng cao năng lực của hệ thống thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ nông nghiệp. Điều chỉnh cơ cấu đầu tư cho vùng miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số, theo đó ưu tiên đầu tư cho phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ trực tiếp việc nâng cao giá trị, hiệu quả của nông lâm sản và doanh nghiệp kinh doanh nông sản, trước hết về giao thông, thuỷ lợi, nâng cao tiềm lực khoa học công nghệ nông nghiệp. Quan tâm hơn phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ thương mại, nhất là xuất khẩu theo đường biên như: chợ nông thôn, kho lạnh, kho ngoại quan, hệ thống thông tin liên lạc… Tăng cường phát triển thuỷ lợi vừa và nhỏ đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, làm thuỷ điện cũng như cung cấp nước sinh hoạt cho người dân miền núi ở Tây Nguyên, miền núi phía Bắc, Bắc Trung bộ và Duyên hải Nam Trung bộ. Đối với các tỉnh Tây Nguyên, ưu tiên xây dựng các hồ chứa đập dâng giữ nước tưới cho cây công nghiệp cà phê, mía, hồ tiêu, cũng như nước sinh hoạt và công nghiệp. Đối với các xã đặc biệt khó khăn chưa có công trình thuỷ lợi hoặc có nhưng đã bị xuống cấp, Nhà nước hỗ trợ đầu tư xây dựng và cải tạo nâng cấp. Đối với địa bàn vùng cao không có ruộng nước, Nhà nước hỗ trợ kinh phí để làm ruộng bậc thang, nhằm giúp người nghèo có điều kiện sản xuất lương thực tại chỗ. Chú trọng phát triển các hoạt động dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, trước hết đối với thú y, bảo vệ thực vật, chế biến, thu mua nông lâm sản.

Để Quyết định 134 nhanh chóng đi vào cuộc sống, phát huy hiệu quả góp phần quan trọng vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Đứng trước những khó khăn vướng mắc từ thực tế triển khai, từ cơ chế chính sách, Chính phủ đã đồng ý kéo dài thêm thời gian thực hiện Quyết định 134 đến hết năm 2008. Do đó các địa phương trong diện thực hiện chính sách cần nâng cao ý thức trách nhiệm, khắc phục khó khăn, phát huy sức mạnh nội lực của toàn dân tích cực chủ động thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ mà chương trình, dự án đã đề ra. Mặt khác, các bộ ngành liên quan cần làm tốt công tác đôn đốc, kiểm tra, giám sát và tham mưu đề xuất với Chính phủ những giải pháp, phương án tháo gỡ kịp thời những vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Quyết định này.

(Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn)

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,664,273


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs