Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/01/2005
Những giải pháp nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

 ThS Luật học Tống Đức Thảo
Viện Khoa học Chính trị
 Học viện CTQG Hồ Chí Minh

        Nước ta có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 13%, họ sống rải khắp các tỉnh miền núi và đồng bằng từ Bắc vào Nam. Các dân tộc ở miền núi, vùng cao có mức sống thấp, nhiều vùng thiếu ăn, nạn mù chữ và tái mù chữ chiếm tới 70%, kinh tế chủ yếu mang tính tự cung, tự cấp, ít có điều kiện để tiếp thu những tri thức và thành tựu văn hoá mới trong đó có pháp luật. Đặc biệt là vấn đề trình độ dân trí đang đặt ra những thách thức lớn khi tỷ lệ trẻ đến trường rất thấp, tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ có nguy cơ tăng mạnh. Điều này xuất phát từ nguyên nhân nhận thức và điều kiện kinh tế - xã hội, giao thông đi lại khó khăn. Trong những năm gần đây, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số đã được nâng lên từng bước cùng với sự phát triển chung của đất nước. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận chất lượng cuộc sống của  đồng bào cả về vật chất lẫn tinh thần chưa tương xứng với sự phát triển kinh tế - xã hội chung của cả nước.

        Tâm lý dân tộc chiếm vị trí quan trọng trong suy nghĩ của người dân tộc (Tư tưởng dân tộc, bản vị, dân tộc địa phương). Tâm lý dân tộc, một mặt có những yếu tố tích cực củng cố ý thức tự hào dân tộc, nhưng nó cũng mang những yếu tố tiêu cực khi nó trở thành ý thức cục bộ, bảo vệ lợi ích bản vị của một bộ phận mà ảnh hưởng đến lợi ích của các dân tộc khác và ngăn cản sự đoàn kết giữa các dân tộc.

        Đặc biệt những phong tục tập quán riêng của từng dòng họ, hoặc từng dân tộc, các luật tục còn có ảnh hưởng lớn đến đời sống đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó vẫn còn những hủ tục nặng nề, lạc hậu. Các luật tục, quy ước bên cạnh những mặt tích cực như được đồng bào tự giác thực hiện, gắn bó gần gũi với cuộc sống hàng ngày của đồng bào, được đồng bào tự giác xây dựng và thực hiện. Song, nó cũng chứa đựng một số mặt hạn chế nhất định như có những quy định của luật tục, quy ước lại trái với quy định của pháp luật. Đồng bào vẫn cứ hành xử theo thói quen của dân tộc mình, của cộng đồng dân cư mình sinh sống mà vô tình không biết rằng mình đang vi phạm pháp luật. Điều này đặt ra yêu cầu là, một mặt, Nhà nước cũng phải đẩy mạnh nghiên cứu để phát hiện ra những tập tục, quy định có giá trị tiến bộ, tích cực và phù hợp với pháp luật để thừa nhận và thể chế thành những quy định pháp luật có giá trị xã hội chung, mặt khác cũng phát hiện ra những quy định trái với pháp luật để loại bỏ dần ra khỏi đời sống của cộng đồng. Đó cũng chính là quá trình pháp luật hoá luật tục, quy ước của đồng bào vừa phù hợp với đặc điểm văn hoá - xã hội của đồng bào, vừa bảo đảm sự thống nhất cao của pháp luật, làm cho pháp luật phù hợp với đời sống của đồng bào.

        Các dân tộc có cuộc sống văn hoá riêng và có tín ngưỡng dân tộc riêng. Một thực tế là ranh giới giữa tín ngưỡng dân gian với mê tín dị đoan rất mong manh (nhất là các lễ hội và các hoạt động thầy cúng, thầy mo). Đặc điểm này phải được đặc biệt quan tâm và có những giải pháp phù hợp để công tác giáo dục pháp luật vừa đạt được mục đích, vừa bảo tồn được những bản sắc văn hoá của đồng bào. Đây là lĩnh vực hết sức phức tạp và nhạy cảm, phải có cách tiếp cận và xử lý khéo léo, linh hoạt để khơi dậy và phát triển những yếu tố tích cực, hạn chế những tác động tiêu cực. Thực tế cũng đã cho thấy, những hoạt động mang tính tín ngưỡng, tôn giáo này đã có lúc, có nơi bị lợi dụng và làm méo mó gây nên sự mất ổn định chính trị - xã hội và cũng là một trong những nguyên nhân gây nên các “Điểm nóng” trong thời gian qua. Vấn đề đặt ra là công tác giáo dục pháp luật phải hướng được những hoạt động này theo những chuẩn mực của pháp luật, khắc phục tận gốc những nguy cơ gây nên sự mất ổn định chính trị - xã hội.

        Từ thực trạng và đòi hỏi của công tác giáo dục pháp luật nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong giai đoạn cách mạng mới đặt ra phải có được hệ thống giải pháp toàn diện nhằm tăng cường vai trò của công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Theo chúng tôi, Đảng và Nhà nước phải có được hệ giải pháp toàn diện và phải xây dựng được chương trình, kế hoạch cụ thể làm cho công tác này thực sự phát huy hiệu quả trong việc nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của đồng bào.

        + Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, sự chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền địa phương.

        Đây là biện pháp cơ bản bao trùm, xuyên suốt quá trình củng cố, tăng cường pháp chế nói chung và đối với công tác giáo dục pháp luật vùng đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng. Phải tổ chức thực hiện pháp luật, giáo dục nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật cho mọi người dân.

        Các cấp uỷ Đảng phải lãnh đạo chặt chẽ công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cả trong Đảng và trong nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chủ yếu thông qua sự chỉ đạo các cơ quan nhà nước, các đoàn thể chính trị. Uỷ ban nhân dân các cấp chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật ở địa phương mình với những phương pháp và hình thức sáng tạo, phù hợp và theo yêu cầu của địa phương trên cơ sở lãnh đạo của Đảng và sự hướng dẫn thống nhất về chuyên môn, nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn cấp trên.

        + Gắn giáo dục pháp luật với việc đẩy mạnh chương trình phát triển kinh tế - xã hội miền núi, nâng cao dân trí, xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế vùng cao, bảo đảm sự đoàn kết giữa đồng bào các dân tộc.

        Phải tiến hành quy hoạch lại khu dân cư, từng bước tổ chức hợp lý đời sống sinh hoạt của đồng bào các thôn, bản tạo điều kiện để đồng bào ổn định đời sống và sản xuất, tiếp tục thực hiện có hiệu quả các chương trình dự án, nhất là Chương trình 135 của Chính phủ để xây dựng nông thôn miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số thực sự phát triển về cơ sở hạ tầng, làm đà cho phát triển văn hoá, y tế, giáo dục... nâng cao dân trí cho đồng bào dân tộc vùng cao, trước hết phải thông qua học tập văn hoá để xoá mù chữ cho đồng bào dân tộc. Các dân tộc có quyền có tiếng nói, chữ viết riêng của dân tộc mình nhưng đồng bào dân tộc thiểu số cũng phải biết chữ quốc ngữ để tiếp thu được những chính sách, pháp luật của Nhà nước.

        Để nâng cao ý thức xã hội, ý thức pháp luật của đồng bào dân tộc thiểu số phải “Hướng về cơ sở”, phải làm cho mọi người dân ở thôn, bản thường xuyên được phổ biến, giáo dục pháp luật, tiếp cận với pháp luật thông qua nhiều hình thức phù hợp. Phải “xoá mù pháp luật” cho đồng bào dân tộc vùng cao thực sự có hiệu quả, rút ngắn được thời gian trong chiến lược “xoá mù pháp luật” mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.

        + Xây dựng nội dung và hình thức giáo dục pháp luật phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số. Cần lựa chọn những nội dung thiết thực, cần thiết với đồng bào dân tộc thiểu số, chương trình phải được biên soạn ngắn gọn, dễ nhớ, dễ hiểu phù hợp với từng dân tộc, từng đối tượng hoặc theo từng lĩnh vực khác nhau. Dịch tài liệu ra tiếng dân tộc, in ngắn gọn, có tranh ảnh minh hoạ để đồng bào dễ tiếp thu. Các cơ quan chức năng phải xây dựng một chương trình giáo dục hết sức cụ thể đối với từng phương thức giáo dục, tuyên truyền pháp luật.

        Như tuyên truyền miệng. Đây là hình thức giáo dục và tuyên truyền pháp luật linh hoạt và có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, cho một hoặc nhiều người trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, đảm bảo tính chính xác cao và có sức truyền cảm lớn. Để hình thức này đạt hiệu quả phải bồi dưỡng và xây dựng được nhiều tuyên truyền viên, báo cáo viên pháp luật là người dân tộc thiểu số hoặc biết tiếng dân tộc để thực hiện công tác giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số bằng tiếng nói của họ. Trường chính trị của các tỉnh và Trung tâm bồi dưỡng chính trị các huyện vùng đồng bào dân tộc thiểu số phải trực tiếp xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên cả về số lượng và chất lượng.

        Giáo dục pháp luật thông qua các phương tiện thông tin đại chúng (đài, báo). Đây là hình thức giáo dục quan trọng nhất và cũng phổ biến nhất bởi những thế mạnh riêng có của nó đó là truyền tải được một lượng thông tin lớn, có tính thời sự, cập nhật trên phạm vi rộng, khắc phục được những khó khăn, cách biệt bởi điều kiện địa lý, địa hình miền núi vùng cao. Song cũng cần mở rộng thêm các phương tiện khác như in sẵn các băng cát-sét, băng ghi hình về nội dung pháp luật để phát đến cơ sở, phát triển các thư viện, hiệu sách, nhà văn hoá...

        Đối với hình thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật thông qua tủ sách pháp luật, điểm bưu điện văn hoá cũng có hiệu quả nhưng chỉ ở các trung tâm xã, phường hay ở mỗi cơ quan cấp cơ sở. Vì vậy, ngoài việc tiếp tục tăng đầu sách cho các tủ sách đã có và phát triển tủ sách pháp luật ở nơi chưa có, cần phát huy tác dụng giáo dục pháp luật của tủ sách pháp luật đã có không để tình trạng tủ sách pháp luật để cho có ở trụ sở xã hoặc nhà văn hoá xã.

        Đổi mới công tác hoà giải để thông qua hoà giải mà nâng cao hiểu biết về pháp luật. Hoà giải không chỉ dựa vào đạo đức xã hội, tình làng, nghĩa xóm mà còn dựa vào pháp luật và qua hoà giải để thực hiện công tác giáo dục pháp luật. Do đó đòi người làm công tác này phải vừa có hiểu biết về pháp luật mà còn phải có uy tín với nhân dân, phải có kinh nghiệm thực tế, vốn sống phong phú. Vì thế, để tiếp tục phát huy hiệu quả của công tác hoà giải trong công tác giáo dục pháp luật ở cơ sở, một mặt cần bồi dưỡng thường xuyên kiến thức pháp luật, kỹ năng hoà giải cho các tổ viên tổ hoà giải, mặt khác cần tiếp tục kiện toàn, củng cố các tổ  hoà giải đã có, thành lập thêm các tổ hoà giải ở những nơi không có tổ  hoà giải, đặc biệt là các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để công tác hoà giải đạt hiệu quả cao cần sử dụng đội ngũ già làng, trưởng bản tham gia vào công tác hoà giải.

        Đối với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua các loại hình sinh hoạt truyền thống của các dân tộc thiểu số trong những năm qua đã được triển khai rộng khắp và đạt được những hiệu quả nhất định, góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật cho đồng bào, bài trừ, hạn chế những hủ tục và mê tín dị đoan không phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội. Tuy nhiên, hình thức này mới được thực hiện đối với một số đồng bào dân tộc có số lượng dân cư đông như Thái, Tày, Mường, Ê đê..., còn các dân tộc khác chưa được áp dụng. Vì vậy, một yêu cầu đặt ra là phải có sự kết hợp liên ngành giữa tư pháp, văn hoá thông tin và ban dân tộc của các tỉnh, huyện trong thực hiện. Các cơ quan này phải cùng nhau xây dựng kế hoạch, phối hợp chặt chẽ và phân công từng khâu công việc cụ thể như lựa chọn nội dung, lựa chọn cán bộ, thời gian tiến hành. Tuy nhiên, cho dù đây là hình thức giáo dục pháp luật có tính chất liên ngành nhưng ngành tư pháp vẫn là ngành chịu trách nhiệm chính bởi vì đây là cơ quan nắm về nội dung pháp luật cần được tuyên truyền, giáo dục.

        Tiếp tục hoàn thiện cơ chế phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Sau khi có Quyết định số 03/1998 của Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập tới các cấp quận, huyện, thị xã. Trong quá trình hoạt động Hội đồng này đã bộc lộ những bất cập nhất là trong việc tuyên truyền giáo dục pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số. Việc phải làm là hoàn thiện cơ chế phối hợp, phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các thành viên, phát huy vai trò của cơ quan thường trực. Để thực hiện hiệu quả Nghị quyết liên tịch số 01 ngày 7/9/1999 về việc phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở những xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa đã được ký kết giữa các bộ: Tư pháp, Văn hoá - Thông tin, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Uỷ ban Dân tộc và Miền núi (nay là Uỷ ban Dân tộc) và Hội Nông dân Việt Nam.

        Tiếp tục củng cố, kiện toàn bộ máy tư pháp ở địa phương, đặc biệt là cơ quan tư pháp ở cơ sở. Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tiếp xúc và giải quyết những yêu cầu của nhân dân. Là cấp gần dân nhất, trực tiếp giải quyết những yêu cầu của nhân dân, song đây đang là cấp tồn tại nhiều yếu kém cả về năng lực, phẩm chất và trách nhiệm cần tập trung khắc phục để đáp ứng yêu cầu của công tác cải cách tư pháp ở nước ta hiện nay.

        Giáo dục ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân vùng dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay là một đòi hỏi cấp thiết của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xã hội công dân ở nước ta. Đó cũng chính là đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới phát triển toàn diện đất nước, thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Mục đích của giáo dục pháp luật là nhằm nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Việc giáo dục ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số đòi hỏi sự tham gia của các cấp, các ngành, của cả hệ thống chính trị. Và phải được tăng cường với một hệ giải pháp đồng bộ và toàn diện. Từ phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với đổi mới hình thức và nội dung giáo dục pháp luật với mục đích là nâng cao ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân. Có như vậy thì ý thức pháp luật và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật của công dân vùng dân tộc thiểu số mới từng bước được nâng cao và theo kịp các vùng, miền khác trong cả nước./.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,264,912


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs