Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 15/11/2006
Ảnh hưởng của tâm lý đến sự phát triển giáo dục - đào tạo ở vùng dân tộc, miền núi phía Bắc và Tây Nguyên


Ph. Ăngghen đã chỉ rõ: Sức mạnh của con người chủ yếu là sức mạnh về trí tuệ. Nó có vai trò quan trọng ở vị trí hàng đầu trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. 

Sau những năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (khoá VIII) và kết luận Trung ương Đảng khoá IX về giáo dục và đào tạo; Nghị quyết Trung ương 7 (khoá IX) về công tác dân tộc, các bộ ngành Trung ương, cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương đã quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho công tác giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Mạng lưới các trường từ mầm non đến trung học phổ thông được mở rộng thu hút nhiều học sinh các dân tộc thiểu số đến trường. Tại thời điểm 31/12/2004 ở các tỉnh miền núi phía Bắc như: Hà Giang với tổng số 128.955 học sinh, trong đó có 82.970 học sinh tiểu học, 35.587 học sinh trung học cơ sở và 10.398 học sinh trung học phổ thông; Cao Bằng với tổng số 117.057 học sinh, trong đó có 54.218 học sinh tiểu học, 43.983 học sinh trung học cơ sở và 18.856 học sinh trung học phổ thông; Lai Châu với tổng số 53.075 học sinh, trong đó có 38.091 học sinh tiểu học, 13.194 học sinh trung học cơ sở và 1.790 học sinh trung học phổ thông. Quy mô và chất lượng giáo dục đối với đồng bào dân tộc đã được nâng lên. Kết quả chống mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học cơ bản được giữ vững. So sánh với những năm trước đây, giáo dục ở những vùng sâu, vùng xa đã có tiến bộ rất nhiều, nhiều trường tiểu học vùng cao trước đây chỉ có lớp 1, lớp 2 thì nay đã có đến lớp 5. Một số cụm xã đã mở lớp 6 nhỏ ở trường tiểu học; hình thức dạy lớp ghép ở các thôn, bản tuy còn nhiều hạn chế, nhưng đã góp phần xoá các điểm trắng về giáo dục và là giải pháp tình thế để đáp ứng nhu cầu học tập của đồng bào. Phần lớn các xã và cụm xã có trường trung học cơ sở toàn cấp, thì có lớp 6, lớp 7 nhỏ gắn với trường tiểu học, tạo điều kiện cho con em các dân tộc được tiếp tục học tập. Điều đáng phấn khởi là đến nay các huyện miền núi vùng cao đều có ít nhất một trường trung học phổ thông và một trường phổ thông dân tộc nội trú.

Tỷ lệ học sinh là người dân tộc thiểu số đạt loại khá, loại trung bình nhiều hơn những năm trước, số học sinh học lực yếu giảm nhiều đến nay chỉ còn khoảng 10-15%. Từ năm 2002 đến nay, các tỉnh đã chú ý đào tạo giáo viên là người dân tộc thiểu số theo hình thức cử tuyển từ các trường phổ thông dân tộc nội trú, giáo viên mầm non được tăng cường đào tạo, phấn đấu hết 2006 sẽ đủ giáo viên, hầu hết giáo viên mầm non ở những vùng khó khăn đã vào biên chế.

Bên cạnh những kết quả nói trên, tình hình giáo dục miền núi Tây Bắc và Tây Nguyên còn khá nhiều tồn tại. Đó là sự mất cân đối về tỷ lệ học sinh so với tỷ lệ dân cư; hầu hết học sinh dân tộc thiểu số đi học không đúng độ tuổi, tỷ lệ lưu ban và bỏ học cao hơn mặt bằng chung của cả nước và cả trong một tỉnh. Tình hình đó có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan. Một trong nguyên nhân chủ quan đó là chúng ta chưa phát huy được mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực, lạc hậu trong tâm lý các dân tộc vùng này đối với sự phát triển giáo dục - đào tạo.

Nền kinh tế miền núi phía Bắc và Tây Nguyên là nền kinh tế nương rẫy, lạc hậu, sản xuất manh mún, đã tồn tại một thời gian khá dài và điều này đã hình thành nên tâm lý cộng động làng bản. Tâm lý yêu làng bản, yêu quê hương, không muốn xa rời quê hương làng bản, nơi “chôn rau cắt rốn” của họ. Tâm lý làng bản bên cạnh mặt tích cực còn có cả mặt tiêu cực, cả hai mặt này đều ảnh hưởng đến hoạt động giáo dục - đào tạo.

Trong “quy ước” của bản làng truyền thống có mặt tích cực đối với hoạt động giáo dục - đào tạo. Đó là ý thức tự quản của cộng đồng làng bản. “Quy ước” thành văn và không thành văn (truyền miệng) của làng bản đều có tác dụng tổ chức, quản lý, giám sát thực hiện hoạt động giáo dục - đào tạo, nhất là ở tuyến cơ sở. Nếu mặt tích cực đó được khơi dậy thì sẽ phát huy được bài học “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong đó có hoạt động giáo dục - đào tạo sẽ có hiệu quả.

Mặt tích cực của tâm lý làng bản còn gắn liền với vai trò của già làng, trưởng dòng họ, trong đồng bào dân tộc miền núi phía Bắc và Tây Nguyên hiện nay. Vấn đề đặt ra là vai trò của già làng, trưởng bản, trưởng dòng họ trong cộng đồng như thế nào? 

Kết quả điều tra về đồng bào dân tộc thiểu số ở 4 tỉnh miền núi phía Bắc là Cao Bằng, Lai Châu, Lào Cai và Sơn La cho thấy:

Có 57% số người trong đồng bào dân tộc thiểu số ở tỉnh Cao Bằng, 54,3% ở tỉnh Lào Cai, 34,1% ở tỉnh Lai Châu và 50,8% ở tỉnh Sơn La được hỏi, đã trả lời rất tin tưởng vào già làng. ở các tỉnh Tây Nguyên có 47% số đồng bào dân tộc thiểu số tin tưởng vào già làng. Nhìn chung vai trò của già làng vẫn là chỗ dựa tinh thần của cộng đồng các dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên. Họ vẫn dành cho già làng một tình cảm kính trọng, một sự tin tưởng cao; họ thực hiện mệnh lệnh của già làng một cách tự nguyện trên cơ sở uy tín của già làng. Đây là điều chúng ta cần nhận thấy và từ đó nếu chúng ta tranh thủ được các già làng thì sẽ thuận lợi nhiều trong việc thuyết phục, lôi cuốn và tập hợp đồng bào các dân tộc thực hiện tốt công tác giáo dục - đào tạo ở tuyến cơ sở bản làng.
Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là đồng bào dân tộc Mông, Dao, Lô Lô ở miền núi phía Bắc, trưởng họ có vai trò to lớn. Có 77,3% số đồng bào dân tộc Mông, Lô Lô được hỏi cho biết, “họ luôn luôn đoàn kết gắn bó với dòng họ, gia đình” và 68,8% cho rằng, họ là người rất trọng danh dự cá nhân và dòng họ mình”. Kết quả điều tra trên cho thấy đối với một số dân tộc vai trò dòng họ, đặc biệt vai trò của trưởng họ của các dân tộc này còn cao hơn vai trò của già làng. Chính vì vậy, trong cuộc vận động toàn dân tham gia công tác giáo dục - đào tạo ở bản làng, trong từng dòng họ không thể không tranh thủ vai trò của trưởng họ. Trưởng họ là người có uy tín trong dòng họ. Trưởng họ có vai trò to lớn trong việc giáo dục, động viên, khích lệ lòng tự tôn, tự trọng của cá nhân trong dòng họ, coi việc học tập, rèn luyện trở thành người hiền tài - không chỉ là niềm tự hào cho gia đình mà còn là lòng tự hào, niềm kiêu hãnh của mỗi dòng họ người Mông, Dao, Lô Lô. Nếu chúng ta tranh thủ được trưởng họ, đưa nội dung công tác giáo dục - đào tạo vào quy ước của dòng họ, của bản làng thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng quản lý giám sát công tác giáo dục - đào tạo ở cơ sở.

Trong đời sống gia đình ở nhiều dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và Tây Nguyên thì ông cậu, bà cô cũng có vai trò không nhỏ. Tỉnh Cao Bằng có 25%, tỉnh Lào Cai có 7,4%, tỉnh Lai Châu có 39,6% và tỉnh Sơn la có 32,8%, Đắc Nông có 30,2%, Kon Tum có 27,2% số người được hỏi thì họ rất tin tưởng vào ông cậu, bà cô.

Ông cậu tham gia vào việc dạy bảo con cháu thành người có tư cách đạo đức, hay làm. Cháu lớn lên do bố mẹ nuôi dưỡng và do cậu dạy bảo. Cậu còn đóng vai trò to lớn đối với cháu trong việc hôn nhân. Trong gia đình bà cô cũng có ý kiến trong tất cả các công việc như: dạy bảo các cháu về các tập tục, cúng bái, ma chay, cưới xin, lấy vợ, lấy chồng. Với uy tín của ông cậu, bà cô trong đồng bào dân tộc thiểu số, nếu chúng ta biết được và khai thác vai trò của họ trong việc thực hiện xã hội hoá giáo dục, rèn luyện nhân cách cho các thành viên trong từng gia đình sẽ có hiệu quả và đảm bảo tính bền vững trong chất lượng giáo dục. Từ những vấn đề nêu trên đã khẳng định vai trò của già làng, trưởng tộc họ, ông cậu, bà cô trong đời sống cộng đồng nói chung và công tác giáo dục - đào tạo ở cơ sở nói riêng là rất cần thiết. Nếu chúng ta biết khai thác mặt tích cực vai trò của họ trong công tác giáo dục vùng cao thì sẽ đưa lại nhiều chuyển biến tích cực hơn nữa.

Tâm lý cộng đồng dân tộc bên cạnh mặt tích cực nói trên thì mặt trái của nó cũng ảnh hưởng tiêu cực đến công tác giáo dục - đào tạo của hai vùng này.

Chính từ lòng yêu quê hương, yêu gia đình, yêu bản làng của đồng bào dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên làm cho con người gắn bó, yêu thương nhau. Họ không muốn xa gia đình, xa làng bản, xa mồ mả cha mẹ, ông bà. Đối với hoạt động giáo dục - đào tạo thì tâm lý đó là một lực cản rất lớn. Ông bà, cha mẹ không muốn con cháu mình đi học ở bản khác, nhất là học ở xã khác, hoặc về huyện lỵ học trường phổ thông trung học nội trú. Thực tế trên đã ảnh hưởng nhất định đến trình độ dân trí ở Tây Nguyên và miền núi phía Bắc, đến trình độ của đội ngũ cán bộ ở cơ sở và đến nhận thức đối với vị trí, vai trò của giáo dục - đào tạo trong việc phát triển nguồn nhân lực nhân tố quyết định sự phát triển của quê hương mình trong tương lai. 

Mặt khác, với cuộc sống dựa trên nền nông nghiệp, canh tác nương rẫy du cư, du canh chủ yếu dựa vào những kinh nghiệm của ông bà, cha mẹ truyền lại đã tạo ra tâm lý ỷ lại từ đó nhu cầu học tập lên cao để mở mang thêm sự hiểu biết của con em đồng bào các dân tộc nơi đây cũng hạn chế. 

Để phát huy mặt tích cực và khắc phục mặt tiêu cực trong tâm lý các dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc và Tây Nguyên nhằm đẩy mạnh sự phát triển giáo dục đào tạo. Chúng ta cần chú ý một số giải pháp có tính định hướng sau đây:

Một là, cần nghiên cứu và chủ động nắm bắt kịp thời những yếu tố tâm lý tích cực trong tâm lý các dân tộc thiểu số các vùng này để phát huy và tâm lý tiêu cực (cản trở) để hạn chế và khắc phục trong quá trình phát triển giáo dục đào tạo.

Hai là, phát triển kinh tế và văn hoá là nền tảng phát huy tâm lý tích cực và khắc phục tâm lý tiêu cực của đồng bào các dân tộc thiểu số.

Ba là, cần có chính sách ưu tiên tăng tỷ lệ ngân sách đầu tư cho sự phát triển giáo dục - đào tạo và coi công tác giáo dục đào tạo là khâu đột phá cho việc phát triển nguồn nhân lực ở miền núi và đồng bào dân tộc thiểu số.

Bốn là, tiếp tục bồi dưỡng nâng cao trình độ cán bộ quản lý giáo dục đào tạo hiện có, nhất là lớp trẻ người dân tộc thiểu số, nên có trường đào tạo nguồn giáo dục đào tạo đối với người dân tộc thiểu số. Tạo điều kiện cho việc cán bộ khu vực này tiếp cận nhanh với tri thức mới. Vấn đề là phải đào tạo cán bộ ngang tầm với nhiệm vụ của ngành hiện nay để có thể quản lý tốt các dự án, các kế hoạch đã ban hành. Đào tạo cán bộ chính là chìa khoá để nâng cao chất lượng giáo dục ở miền núi.

Năm là, có chính sách đặc biệt ưu đãi để thu hút cán bộ thuộc ngành giáo dục đào tạo lên nhận công tác tại vùng có đông người dân tộc thiểu số. Những cán bộ này là người có phẩm chất và năng lực, có uy tín và cần phải am hiểu phong tục, tập quán các dân tộc và phải biết nói tiếng của đồng bào dân tộc thiểu số nơi mình đến công tác, thì hiệu quả công tác sẽ tốt hơn.

Những giải pháp có tính định hướng trên đây chỉ trở thành hiện thực khi coi đó là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị. Trong đó ngành giáo dục - đào tạo đóng vai trò nòng cốt.

TS. Lê Hữu Xanh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,663,787


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs