Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 15/11/2006
Đầu tư phát triển doanh nghiệp công nghiệp tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi
Những năm qua, Đảng và Chính phủ đã ban hành nhiều cơ chế chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Những cơ chế chính sách đó đã góp phần thúc đẩy sự phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2005 là 17,57%/năm (cả nước tăng 18,51%/năm). Trong đó, khu vực quốc doanh trung ương là 19,37%, ngoài quốc doanh là 21,14%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 45,26% và khu vực quốc doanh địa phương có mức tăng thấp nhất là 10,88%. Năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp của vùng mới đạt 7.332,9 tỷ đồng, chiếm 1,4% giá trị sản xuất công nghiệp của cả nước.

Những tỉnh có tốc độ tăng trưởng bình quân cao là Bắc Kạn (29,97%), Lạng Sơn (23,48%), Sơn La (23,92%), Đăk Nông (221%). Các tỉnh có tốc độ tăng trưởng bình quân thấp như Lai Châu (10,65%), Cao Bằng (13,14%), Lào Cai (13,28%).

Số lượng cơ sở hoạt động sản xuất công nghiệp tăng 10,8% trong giai đoạn 2001-2005, từ 42.063 tăng lên 46.606 cơ sở tính đến cuối năm 2005 (cả nước tăng 17,3%). Trong đó, khu vực quốc doanh chiếm 0,38%, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm 0,06%, còn lại 99,56% số cơ sở thuộc khu vực ngoài quốc doanh và tập trung chủ yếu ở thành phố, thị xã, thị trấn.

Lao động công nghiệp tăng 49,17%, từ 115.150 người năm 2000 lên 171.773 người năm 2005, chiếm 4,8% trong tổng số lao động của vùng (cả nước tăng 52%, chiếm 18%). Lao động công nghiệp tập trung chủ yếu vào 2 nhóm ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm và sản xuất vật liệu xây dựng. Các ngành công nghiệp khác chiếm tỷ trọng không đáng kể.

Cơ cấu công nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đề ra. Từ năm 2000 đến 2005, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng trong GDP tăng liên tục từ 14,9% năm 2000 lên 22,1% năm 2005, dịch vụ tăng từ 31,4% lên 34,8% và khu vực nông, lâm nghiệp giảm từ 53,7% xuống còn 43,1%.

Tuy đạt được thành tựu đáng kể nhưng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi phần lớn là công nghiệp khai thác khoáng sản và chế biến nông lâm sản với quy mô nhỏ như: khai thác than, quặng kim loại, đá xây dựng… sản xuất miến dong, xay sát nông sản, nấu rượu, chế biến chè, chế biến dược liệu, gỗ xẻ, sản xuất đồ mộc, các ngành nghề thủ công như dệt vải, thêu, đan lát… do đó ít có điều kiện để tự đầu tư nâng cao năng lực lao động và chất lượng sản phẩm.

Trình độ công nghệ, máy móc thiết bị của các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp phần lớn là lạc hậu. Vốn đầu tư toàn xã hội cho phát triển công nghiệp còn thấp, làm hạn chế đến khả năng đầu tư mở rộng và nâng cao trình độ công nghệ của các cơ sở sản xuất. Việc kêu gọi đầu tư từ các tỉnh, thành phố miền xuôi và từ các nhà đầu tư nước ngoài còn rất hạn chế.

Mặt khác dù tăng trưởng khá cao trong thời gian vừa qua nhưng do điểm xuất phát rất thấp nên giá trị sản xuất công nghiệp bình quân cho 1 người năm 2004 chỉ đạt 584.000 đồng, bằng 12,2% so với trung bình cả nước.

Nguyên nhân các ngành công nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi chậm phát triển là do: Địa hình núi cao, chia cắt phức tạp; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực thấp; kinh tế - xã hội chậm phát triển, đến nay vẫn là vùng nghèo nhất trong cả nước.

Ngoài những yếu tố khách quan trên, các ngành công nghiệp ở vùng dân tộc và miền núi còn chậm phát triển là do chưa có cơ chế, chính sách đặc thù để hỗ trợ, ưu đãi cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Vì vậy, thu hút đầu tư công nghiệp vào vùng rất thấp. Công tác lập và triển khai thực hiện quy hoạch phát triển công nghiệp của các tỉnh thường chậm và ít quan tâm đến sự liên kết nội vùng và liên vùng trong phát triển nên kết quả thực hiện quy hoạch không cao. Việc xây dựng và ban hành văn bản pháp luật chậm, thiếu đồng bộ, đặc biệt là các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định… đã gây nhiều khó khăn cho địa phương và doanh nghiệp triển khai thực hiện. Mặc dù phát triển công nghiệp được đưa lên vị trí hàng đầu trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ, trong quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội và một số văn bản quan trọng khác nhưng trên thực tế thì việc đầu tư nguồn lực từ cấp tỉnh đến huyện, xã cho phát triển công nghiệp còn rất hạn chế, đặc biệt là nguồn lực về con người, vốn… Hầu hết cán bộ Phòng Kinh tế (Phòng công thương) ở cấp huyện không được đào tạo chuyên ngành công nghiệp, cấp xã thì càng không có.
Để phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi theo tinh thần Quyết định 07/QĐ-TTg ngày 10/1/2006 của Thủ tướng Chính phủ, trên quan điểm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gắn liền với việc bảo đảm an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, chú trọng đến mối quan hệ hữu cơ với các vùng xung quanh và cả nước trên cơ sở phân công hợp tác cùng có lợi, từng bước cải thiện đời sống kinh tế và nâng cao dân trí của nhân dân trên địa bàn. Đồng thời huy động mọi nguồn lực của nhân dân các dân tộc trong vùng, các tỉnh khác, các doanh nghiệp miền xuôi thuộc mọi thành phần kinh tế và đầu tư nước ngoài, đặc biệt là từ Trung Quốc, Lào, Campuchia và các nước ASEAN. Nhà nước tập trung đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thuận lợi cho công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; đồng thời có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp. Tận dụng cơ hội hội nhập, hợp tác, xuất nhập khẩu với vùng biên giới Trung Quốc, Lào, Campuchia để phát triển, trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng và ưu thế sẵn có của vùng biên giới, cửa ngõ giao lưu của Việt Nam và các nước ASEAN với Trung Quốc. Ưu tiên phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tập trung vào một số cửa khẩu chính, khuyến khích phát triển ở các vùng khác dọc tuyến biên giới với quy mô vừa và nhỏ. Phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn liền với du lịch. Chú trọng bảo vệ môi trường sinh thái, đặc biệt là bảo vệ rừng và nguồn nước. 

Trên cơ sở các quan điểm phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2006-2010, có thể chia vùng phát triển như sau:

Vùng trung du miền núi phía Bắc, gồm 14 tỉnh: Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hoà Bình, Hà Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên Bái. ở vùng này cần tập trung phát triển thuỷ điện, chế biến nông, lâm sản (giấy, chè, gỗ, thực phẩm, đồ uống…) khai thác và chế biến khoáng sản (quặng sắt, apatit, than, đồng, chì, kẽm, thiếc, vonfram), hoá chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng. Chú trọng phát triển công nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến. Với mục tiêu đưa tỷ trọng công nghiệp trong tổng GDP của vùng đạt 23-24% năm 2010; tỷ trọng các ngành công nghiệp cơ bản đạt 37-38% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng. Duy trì tỷ trọng các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản đạt 25-26%. 

Vùng Tây Nguyên, gồm 4 tỉnh: Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum cần tập trung phát triển thuỷ điện, công nghiệp chế biến nông lâm sản (như cà phê, cao su, bột giấy, mía đường…) và khai thác, chế biến khoáng sản, đặc biệt là bôxit. Mục tiêu đưa tỷ trọng công nghiệp trong tổng GDP của vùng đạt 13-14% năm 2010; tỷ trọng công nghiệp chế biến nông lâm sản, như cà phê, cao su, bột giấy, mía đường… chiếm 38-39% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng; các ngành công nghiệp cơ bản chiếm 27,6-28,5%, trong đó phấn đấu đưa tổ hợp bôxit - alumin quy mô lớn vào sản xuất phục vụ xuất khẩu. 

Vùng đồng bằng sông Cửu Long, gồm 13 tỉnh: An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long cần tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản hướng vào xuất khẩu; phát triển các ngành công nghiệp sử dụng khí, phát triển ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sau thu hoạch và bảo quản và công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, cơ khí đóng tàu. Mục tiêu đến năm 2010, tỷ trọng công nghiệp trong tổng GDP của vùng đạt 26-27%, phát triển các ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản với vai trò ngành chủ lực (chiếm 56,6-57,6% tổng giá trị sản xuất công nghiệp của vùng).

Để đạt được các mục tiêu đó, Chính phủ cần có những chính sách hỗ trợ, ưu đãi để khuyến khích phát triển trong đó cần tập trung thực hiện có hiệu quả một số giải pháp cơ bản sau:

Hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển: 

Nhà nước ưu tiên dành một khoản vốn tín dụng đầu tư phát triển trong kế hoạch hàng năm để Quỹ Hỗ trợ phát triển hỗ trợ tín dụng đầu tư cho các dự án công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Đối với các dự án đầu tư mới, đầu tư mở rộng, đầu tư chiều sâu được Quỹ Hỗ trợ phát triển cho vay ưu đãi đầu tư trung hạn và dài hạn đáp ứng 70% tổng vốn đầu tư của dự án. Một dự án có thể đồng thời được vay đầu tư một phần và hỗ trợ lãi suất sau đầu tư hoặc được vay đầu tư một phần và được bảo lãnh tín dụng sau đầu tư, nhưng tổng mức hỗ trợ theo các hình thức đó không quá 85% vốn đầu tư của dự án. Đối với các dự án qui mô dưới 5 tỷ đồng, số tiền quỹ cho vay có thể bằng 90% tổng vốn đầu tư.

Hỗ trợ xây dựng kết cấu hạ tầng cụm công nghiệp và hỗ trợ giải phóng mặt bằng, san lấp mặt bằng, rà phá vật cản, xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở sản xuất kinh doanh: 

Ngân sách Trung ương hỗ trợ xây dựng hạ tầng cho cả các cụm công nghiệp tại các tỉnh vùng dân tộc thiểu số và miền núi theo quy định tại Quyết định số 183/2004/QĐ-TTg ngày 19 tháng 11 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ, theo đó ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương được cân đối bổ sung có mục tiêu hàng năm để cùng hỗ trợ theo tỷ lệ 70-30 cho các dự án đầu tư sản xuất công nghiệp không nằm trong khu - cụm công nghiệp, nhưng thuộc các ngành, nghề khuyến khích đầu tư và nhà đầu tư được hưởng các mức hỗ trợ như sau: Hỗ trợ 100% chi phí giải phóng mặt bằng và 70% chi phí san lấp mặt bằng; hỗ trợ 100% chi phí xây dựng kết cấu hạ tầng ngoài hàng rào cơ sở sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư (bao gồm giao thông, điện, nước, thông tin); hỗ trợ 100% chi phí rà phá vật cản nằm trong mặt bằng sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư.

Uỷ ban nhân dân tỉnh quan tâm giải quyết mặt bằng sản xuất kinh doanh cho nhà đầu tư sản xuất công nghiệp thông qua việc giao đất hoặc cho thuê đất đối với nhà đầu tư trong nước, cho thuê đất đối với nhà đầu tư nước ngoài. và có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc đền bù, giải phóng mặt bằng cho nhà đầu tư.

Hỗ trợ cước phí vận chuyển tiêu thụ sản phẩm: 

Hàng năm ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương của các tỉnh thuộc vùng dân tộc thiểu số và miền núi bố trí kinh phí để cùng hỗ trợ cước phí vận chuyển tiêu thụ sản phẩm cho các nhà đầu tư sản xuất công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; sản xuất hàng tiêu dùng, hàng thủ công mỹ nghệ theo tỷ lệ ngân sách Trung ương 50%, ngân sách địa phương 50%.

Mức hỗ trợ cụ thể tuỳ thuộc vào cự ly và khối lượng vận chuyển sản phẩm do nhà đầu tư sản xuất tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi đi tiêu thụ tại địa bàn tỉnh khác hoặc xuất khẩu, nhưng tối đa không quá 30% cước phí vận chuyển sản phẩm thực tế phát sinh và chỉ được áp dụng không quá 5 năm.

Hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực:

Ngân sách nhà nước đảm bảo kinh phí hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi thông qua các chương trình, dự án giáo dục - đào tạo và dạy nghề, bao gồm: Các khoá học có thời gian trên 1 năm, tổ chức tại các trường thuộc các bộ, ngành, địa phương quản lí có ngành, nghề đào tạo phù hợp với nhu cầu về nhân lực cho sản xuất công nghiệp; đào tạo nghề ngắn hạn (từ 1 tháng đến 12 tháng) tổ chức tập trung tại cơ sở dạy nghề, cơ sở sản xuất, làng, xã theo kế hoạch dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn như quy định tại Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg ngày 18 tháng 4 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn và kế hoạch khuyến công như quy định tại Nghị định 134/2004/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn và các khoá học thuộc chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa giai đoạn 2004-2008 theo Quyết định số 143/2004/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ.

Trường hợp doanh nghiệp tự đào tạo lao động đạt trình độ tay nghề từ bậc 3 trở lên đối với dự án đầu tư mới sử dụng từ 50 lao động trở lên thì được ngân sách địa phương hỗ trợ một phần chi phí theo hình thức hỗ trợ một lần. Trường hợp lao động tại tỉnh không đáp ứng được yêu cầu, phải tuyển dụng lao động ngoài tỉnh thì số lao động này được ngân sách địa phương hỗ trợ để ổn định cuộc sống ban đầu. Mức hỗ trợ chi phí đào tạo, chi phí ổn định cuộc sống do Uỷ ban nhân dân tỉnh quyết định.

Hỗ trợ xúc tiến thương mại:

Nhà đầu tư sản xuất công nghiệp có sản phẩm xuất khẩu trực tiếp được tỉnh xem xét hỗ trợ kinh phí trong giao dịch tìm kiếm thị trường, mức hỗ trợ đến 100% nếu giá trị xuất khẩu lớn hơn 1.000.000 USD/năm và đến 60% nếu giá trị xuất khẩu đạt từ 50.000-1.000.000 USD/năm, nhưng tối đa không quá 200 triệu đồng/năm. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có sản phẩm được sản xuất trên địa bàn, vùng tham dự hội chợ, triển lãm trong và ngoài nước để mở rộng thị trường sẽ được tỉnh hỗ trợ 100% kinh phí thuê gian hàng, các kinh phí khác sẽ được xem xét hỗ trợ tối đa 50%.

Các doanh nghiệp sử dụng các phương tiện truyền thông để quảng cáo sản phẩm được ngân sách hỗ trợ tối đa 50% kinh phí. Hỗ trợ các doanh nghiệp xây dựng thương hiệu và quảng bá sản phẩm từ 30-50% kinh phí nhưng mức tối đa mỗi năm không quá 50 triệu đồng/doanh nghiệp.

Ưu tiên trong đấu thầu, xét thầu, chỉ định thầu:

Nhà đầu tư sản xuất công nghiệp tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi khi tham gia đấu thầu thực hiện công trình của nhà nước tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi được ưu tiên trong đấu thầu, xét thầu.

Đối với những gói thầu thuộc phạm vi được chỉ định thầu theo quy chế đấu thầu hiện hành, nhà đầu tư sản xuất công nghiệp sẽ được ưu tiên xem xét chỉ định thầu, nhưng phải đảm bảo đủ tiêu chuẩn năng lực về kỹ thuật, tài chính theo yêu cầu của gói thầu.

Hỗ trợ từ hoạt động khuyến công:

Để đảm bảo cho hoạt động này, hàng năm Bộ Tài chính cần ưu tiên bố trí kinh phí sự nghiệp kinh tế từ Ngân sách Trung ương cho Bộ Công nghiệp để thực hiện các hoạt động khuyến công quốc gia tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị định số 134/2004/NĐ-CP ngày 9 tháng 6 năm 2004 của Chính phủ về khuyến khích phát triển công nghiệp nông thôn.

Uỷ ban nhân dân các tỉnh trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi bố trí một phần ngân sách địa phương hàng năm để bảo đảm đủ nguồn kinh phí khuyến công địa phương theo quy định tại Nghị định số 134/2004/NĐ-CP và thành lập, triển khai hoạt động của Trung tâm khuyến công địa phương nhằm hướng dẫn, hỗ trợ các cơ sở công nghiệp nông thôn tại địa bàn.

Bộ Công nghiệp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ và Uỷ ban nhân dân các tỉnh trong vùng dân tộc thiểu số và miền núi xây dựng và thành lập một số Trung tâm khuyến công quốc gia tại vùng dân tộc thiểu số và miền núi để triển khai các hoạt động khuyến công quốc gia tại vùng.

(Theo tham luận của Bộ Công nghiệp tại Hội nghị Quốc tế tư vấn phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi).

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,894,990


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs