Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 15/11/2006
Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng
Nội dung của vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc, của công tác dân tộc trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng như sau:

“Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc có vị trí chiến lược lâu dài trong sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu trong các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu phong tục, tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc, làm tốt công tác dân vận. Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”. 

Nội dung của vấn đề dân tộc trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng đã chỉ rõ:

1. Tầm quan trọng, vị trí chiến lược lâu dài của vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc, của công tác dân tộc trong sự nghiệp cách mạng của nước ta.

2. Nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước là “các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ”.

3. Chỉ ra những nhiệm vụ và giải pháp để phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi nhất là vùng đặc biệt khó khăn nhằm rút ngắn khoảng cách giữa các dân tộc, giữa miền núi với đồng bằng, đô thị. 

Nội dung của vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc, của công tác dân tộc trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng cho thấy vấn đề dân tộc trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, với những thể hiện hết sức phong phú, phức tạp đã và sẽ chi phối sự phát triển, đi lên của đất nước và đến việc thực hiện quyết tâm “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển” được Đại hội X của Đảng đặt ra. Nội dung trên còn thể hiện sự nhất quán trong đường lối, quan điểm của Đảng ta đối với vấn đề dân tộc qua các kỳ đại hội.

Đại hội VIII của Đảng xác định: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước…”.

Đại hội IX, đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, vấn đề dân tộc được gắn với đoàn kết các dân tộc và đã được xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển…”.

Nước ta có 54 dân tộc, dân tộc Kinh là dân tộc đa số chiếm khoảng 86% số dân, 53 dân tộc còn lại là dân tộc thiểu số, có số dân chiếm khoảng 14%. Đồng bào các dân tộc sống xen kẽ ở hầu hết các địa phương trong cả nước song chủ yếu tập trung ở miền núi, biên giới, hải đảo - nơi địa hình hiểm trở, chia cắt thường xuyên chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt nhưng giàu tài nguyên khoáng sản, rừng, nước… Đây là địa bàn có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. Đồng bào các dân tộc thiểu số là một bộ phận quan trọng hợp thành động lực của cách mạng; “Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số” được Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng thông qua (3/1935) đã xác định “lực lượng đấu tranh của các dân tộc thiểu số là một lực lượng rất lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương”.

Nhận rõ vị trí chiến lược cùng những bất cập ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi những năm qua, Đảng và Nhà nước đã tập trung đầu tư thông qua nhiều chính sách, chương trình, dự án đã tạo được những đổi thay nhất định song do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và do tiềm lực kinh tế của đất nước có hạn cùng những thiếu sót khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nên đến nay kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi đang còn nhiều khó khăn thấp kém.

Những khuyết điểm, yếu kém được chỉ ra trong phần kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX đã thể hiện rõ nhất ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Đó là: “chất lượng nguồn nhân lực thấp, lao động chưa qua đào tạo vẫn là phổ biến”; “thành tựu xoá đói giảm nghèo chưa thật vững chắc, nguy cơ tái nghèo còn lớn”. “Chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa các tầng lớp nhân dân giữa các vùng ngày càng tăng”. “ở một số địa bàn có những yếu tố gây mất ổn định chính trị - xã hội cục bộ”; “tổ chức cơ sở đảng thiếu sức chiến đấu và không đủ năng lực giải quyết những vấn đề phức tạp nảy sinh ở cơ sở”… Vùng dân tộc thiểu số và miền núi nơi xung yếu và khó khăn nhất nước ấy cơ sở hạ tầng còn thấp kém, kinh tế - xã hội phát triển chậm, đời sống của đồng bào còn nhiều thiếu khó, tỷ lệ đói nghèo cao, trình độ dân trí, mặt bằng giáo dục thấp (Hiện còn 10/54 dân tộc chưa có người có trình độ Đại học, 5 dân tộc chưa có người có trình độ Trung cấp). Bản sắc văn hóa, nguy cơ mất văn hóa truyền thống đã đặt ra, không chỉ với những dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. ở một số vùng vẫn còn di dân tự do và tôn giáo phát triển không bình thường. Rồi những bức xúc trong cuộc sống của đồng bào như: thiếu đất ở, nhà ở, đất canh tác, nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất không đảm bảo; hệ thống đường liên thôn, trong bản nơi đồng bào đi lại ngày đêm, sớm tối chưa được đầu tư xây dựng; nơi sinh hoạt văn hóa của thôn bản, nơi chữa bệnh của cộng đồng còn thiếu thốn, chưa đảm bảo, tình trạng mù chữ, tái mù chữ của người lớn, chỗ học của con trẻ chưa được quan tâm chu đáo; phương thức sản xuất lạc hậu phụ thuộc nhiều vào tự nhiên… Thực tế ấy không được giải quyết thì nước ta không thể ra khỏi tình trạng nước kém phát triển để trở thành một nước công nghiệp. Đây là thách thức to lớn trên con đường đi tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Thực tế trên càng không được xem thường khi mà vấn đề dân tộc, sắc tộc ở nhiều nước trên thế giới và trong khu vực đang diễn biến hết sức phức tạp. Sự bùng nổ của trào lưu ly khai dân tộc ở các nước trên thế giới hiện nay, ngoài nguyên nhân bên trong (vấn đề lịch sử để lại, những mâu thuẫn nội tại…) còn là sự kích động, tiếp tay, can thiệp để phục vụ cho chiến lược toàn cầu của các thế lực thù địch quốc tế. 

Với nước ta, các lực lượng phản động, thù địch đang tìm mọi cách khai thác, lợi dụng những khó khăn, thiếu thốn trong đời sống của đồng bào các dân tộc cùng những hạn chế, yếu kém, những tiêu cực trong thực hiện chính sách dân tộc ở các địa phương để xuyên tạc, kích động, chia rẽ đoàn kết các dân tộc, gây mất ổn định chính trị trong âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của chúng. Những gì diễn ra ở Tây Nguyên tháng 2 năm 2001, những tháng đầu năm 2002 và tháng 4/2004 cùng diễn biến gần đây ở các tỉnh Tây Bắc, Tây Nam bộ là những minh chứng.

Những thực tế trên phải được phân tích đầy đủ và sâu sắc để đạt được sự thống nhất trong nhận thức của các cấp, các ngành, các địa phương, đó là: Trong rất nhiều nhiệm vụ trọng đại cần quan tâm, giải quyết của đất nước có vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc. “Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị”. Và trong dòng chảy sôi động của cơ chế thị trường, cuốn hướng mọi đối tượng vào hoạt động kinh tế vẫn phải thấy vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách của cách mạng nước ta; thấy sự ổn định, phát triển ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi trực tiếp chi phối, tác động đến sự ổn định về chính trị của đất nước cũng như sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa phương; thấy thực trạng kinh tế - xã hội thấp kém cùng những bất ổn ở vùng dân tộc và miền núi - địa bàn căn cứ cách mạng, kháng chiến trước đây, vùng “phên dậu” của đất nước hiện nay để có sự quan tâm đầu tư phù hợp với những giải pháp tích cực, đồng bộ vừa giải quyết kịp thời những vấn đề cấp thiết “đang nóng” hiện nay, như: nghèo đói, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước cho sản xuất và sinh hoạt của đồng bào… vừa đảm bảo cho sự ổn định và phát triển nhanh, toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Những nhiệm vụ, giải pháp để giải quyết vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc được nêu trong Nghị quyết Đại hội X của Đảng đó là:
- Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói, giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc.

- Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng; làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới.

- Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng.

- Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; động viên, phát huy vai trò của những người có uy tín trong các dân tộc.

- Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, trí thức là người dân tộc thiểu số.

- Cán bộ công tác ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi phải gần gũi, hiểu biết phong tục tập quán, tiếng nói của đồng bào dân tộc; làm tốt công tác dân vận.

- Chống các biểu hiện kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc.

Những nhiệm vụ, giải pháp trên phải được các cấp, các ngành quán triệt sâu sắc và được cụ thể hoá trong triển khai, tổ chức thực hiện.

Ở nước ta, 44/64 tỉnh, thành phố có đồi, núi và đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở tất cả các tỉnh, thành phố, về số lượng người và điều kiện, hình thức cư trú có khác nhau. Nét đặc trưng tiêu biểu ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi là tính đặc thù, đặc thù ở tiềm năng, thế mạnh, ở mức độ, trình độ phát triển, ở điều kiện tự nhiên, địa hình, khí hậu, thời tiết, phong tục, tập quán, thói quen… Việc cụ thể hoá 7 nhiệm vụ, giải pháp được Đại hội X của Đảng đề ra trong tổ chức thực hiện ở từng ngành, từng địa phương phải được thực hiện nghiêm túc và khoa học, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, thống nhất của cấp uỷ, chính quyền từng cấp. Cơ quan làm công tác dân tộc với chức năng quản lí nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc làm thật tốt nhiệm vụ tham mưu, đề xuất cho cấp uỷ, chính quyền địa phương trong quá trình xây dựng chương trình hành động và trong việc xác định mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp thực hiện. Phải tìm cho được nhiệm vụ then chốt, giải pháp đột phá để từ đó khai thác triệt để tiềm năng thế mạnh đồng thời huy động sức mạnh tổng hợp của địa phương trong thực hiện. 

Sự phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi đi liền với quá trình chuyển nền kinh tế tự cấp, tự túc sang nền kinh tế hàng hoá thông qua đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng, ưu tiên xây dựng hệ thống giao thông nông thôn, thuỷ lợi; điều chỉnh hợp lí cơ cấu kinh tế, bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo vệ tài nguyên. Phải gắn phát triển kinh tế với chăm lo đời sống của đồng bào, tập trung xoá đói, giảm nghèo và bảo đảm các nhu cầu giáo dục, y tế ở các xã đặc biệt khó khăn và ở các thôn, bản đặc biệt khó khăn của các xã vùng II; coi trọng phát triển công nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp chế biến. Các cơ sở công nghiệp phải là những “đầu kéo” về kinh tế - xã hội trên địa bàn và là những nhân tố cơ bản, đóng góp tích cực vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Để đảm bảo sự phát triển bền vững ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng, các địa phương phải đặc biệt quan tâm, chăm lo đến chất lượng nguồn lực con người thông qua việc phát triển giáo dục, nâng cao dân trí và đào tạo nguồn nhân lực và phải tạo nhiều cơ hội cho người dân tiếp thụ, ứng dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ cơ sở là người dân tộc tại chỗ về lí luận chính trị, về quản lí xã hội, về chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu quản lí, điều hành và thực hiện các chính sách, các chương trình, dự án của nhà nước dành cho địa phương.

Với nhiệm vụ “Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng”, việc phải làm là xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội cho vùng dân tộc và miền núi đặc biệt khó khăn (vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng căn cứ cách mạng) và tổ chức thực hiện tốt chiến lược ấy. 

Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, “Chiến lược kinh tế - xã hội” là: “Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trong thời gian dài. Chiến lược kinh tế - xã hội xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển, cơ cấu kinh tế các ngành, các vùng, các thành phần kinh tế, cơ chế quản lí và những chính sách lớn, giải pháp chủ yếu (về vốn, dân số và lao động, khoa học - kỹ thuật, văn hoá - xã hội, tổ chức và cán bộ…).

Vấn đề có vị trí chiến lược lâu dài trên địa bàn xung yếu chiến lược hiện đang khó khăn nhất của đất nước đòi phải có chiến lược phát triển để từ chiến lược ấy sẽ được cụ thể vào các kế hoạch của nhà nước và để ra đời những chính sách, những quyết định, những chương trình, dự án thiết thực, phù hợp đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, vững chắc và đồng bộ của sự phát triển nhờ đó mà tránh được sự bị động, chồng chéo trong quá trình xây dựng và ban hành các chính sách. 

Trung Quốc, nước có nhiều thành công trong công tác dân tộc. Sau “Chương trình 7 năm” (gần như Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng sâu, vùng xa, biên giới gọi tắt là Chương trình 135 của nước ta) để tập trung giải quyết về cơ bản tình trạng đói nghèo cho 80 triệu người dân, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số. Trước một năm “Chương trình 7 năm” kết thúc Trung Quốc đã xây dựng và đưa vào thực hiện chiến lược “Đại khai phát miền Tây”. Với chiến lược này tiềm lực của cả nước được huy động; trách nhiệm, sức mạnh, thế mạnh và cả kinh nghiệm của các địa phương kinh tế - xã hội phát triển được khai thác cho phát triển nhanh, toàn diện, vững chắc miền Tây - vùng dân tộc thiểu số và miền núi của Trung Quốc. Thực tế ấy cần được tham khảo.

Nguyễn Phương Thảo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,903,237


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs