Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản: Lợi ích kinh tế và môi trường

 12/10/2006

LTS: Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản là một chương trình rất thiết thực, tác dụng to lớn góp phần quan trọng vào công cuộc xóa đói giảm nghèo ở khu vực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Báo Dân tộc và Phát triển đã có cuộc phỏng vấn TS. Chu Tiến Vĩnh, Cục trưởng Cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản, Bộ Thủy sản về vấn đề này.

PV: Được biết công tác Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản miền núi là một trong những mục tiêu được Bộ Thuỷ sản quan tâm, ưu tiên, góp phần xoá đói giảm nghèo cho đồng bào dân tộc. Vậy những năm qua Cục đã thực hiện chủ trương này như thế nào, kết quả ra sao, thưa ông?

TS.Chu Tiến Vĩnh (CTV): Một trong những hoạt động chính trong bảo vệ phát triển nguồn lợi thủy sản phụ thuộc rất nhiều vào nguồn thuỷ sản và nơi sinh cư của chúng. Ở miền núi, ngoài thế mạnh về nghề rừng, còn có thế mạnh về thuỷ sản nước ngọt. Với hệ thống hồ chứa, sông suối, ao đầm phân bố rộng khắp các tỉnh miền núi, nhiều bãi đẻ của các loài cá di cư, các loài cá kinh tế, các loài thuỷ sản quý hiếm khác thường tập trung ở thượng nguồn sông suối. Nếu bảo vệ tốt những bãi đẻ ở thượng nguồn này thì nghề khai thác cá nước ngọt sẽ phát triển, đồng thời góp phần nâng cao sản lượng các loài cá di cư sông biển. Hàng ngàn người thuộc các dân tộc khác ở miền núi đã và đang sống nhờ vào khai thác nguồn lợi thuỷ sản trên hồ, sông, suối.

Nhiều người đã xoá được đói, giảm được nghèo và thậm chí trở thành giàu có nhờ khai thác thuỷ sản. Những năm qua, Bộ Thuỷ sản đã phối hợp với các tỉnh trung du, miền núi bàn nhiều biện pháp phát triển nghề cá nước ngọt. Ngoài việc tuyên truyền, hướng dẫn bà con tham gia nuôi cá theo các hình thức: nuôi lồng, bè, nuôi cá nước chảy, Bộ đã chuyển giao công nghệ sinh sản nhân tạo nhiều loài cá kinh tế, chủ động được giống cung cấp nuôi thả trên các loại hình mặt nước, đồng thời nghiên cứu biện pháp khai thác cá với các nghề thích hợp, để vừa có thu nhập, vừa bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản. Bộ đã tiến hành khảo sát và xác định các bãi giống, bãi đẻ các các loài thuỷ sản trên các hồ, sông, suối lớn; tuyên truyền nâng cao nhận thức cho đồng bào các dân tộc không dùng chất độc, xung điện đánh bắt huỷ diệt các loài thuỷ sản. Lực lượng thanh tra thuỷ sản đã mở nhiều lớp tập huấn về công tác bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản cho chính quyền và người dân ven hồ chứa như hồ Hoà Bình, hồ Thác Bà, hồ Dầu Tiếng, hồ Trị An.v.v.. Những kết quả đó đã góp phần hạn chế khai thác thuỷ sản tự do bằng các hình thức hủy diệt của đồng bào nên nguồn lợi của nhiều loài thủy sản đã có dấu hiệu phục hồi. 

PV: Hiện nay, việc thực hiện chương trình, kế hoạch Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản vùng dân tộc miền núi còn khó khăn vướng mắc gì, biện pháp tháo gỡ ra sao?

TS-CTV: Như đã trình bày ở trên, sông, suối, hồ chứa ở miền núi rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đến phát triển bền vững kinh tế thuỷ sản, do vậy việc củng cố, duy trì và phát triển nguồn lợi thuỷ sản là nhiệm vụ trọng tâm, ưu tiên của Bộ Thuỷ sản, tuy nhiên, trong quá trình thực hiện, còn có nhiều khó khăn, vướng mắc, đó là:

* Về tổ chức: còn có sự lúng túng, mỗi địa phương có cách quản lý riêng, thiếu thống nhất: Những hồ chứa nhỏ và vừa, thường là giao cho người dân đấu thầu, khoán trắng, nhiều hồ chứa được thả một số đối tượng cá truyền thống và được khai thác tương đối có hiệu quả, song việc quản lý ở những hồ chứa lớn gặp khó khăn, đặc biệt là hồ chứa nằm trên địa phận từ 2 tỉnh trở lên.

* Về điều tra quy hoạch: Cho đến nay chưa kiểm kê cập nhật được tình hình biến động nguồn lợi trên các hồ chứa lớn và vừa, vì vậy chưa nắm chắc số lượng bãi đẻ, bãi giống và số lượng giống thuỷ sản tự tái tạo trong hồ. Do thiếu số liệu điều tra cơ bản, nên việc quy hoạch các khu vực cấm khai thác, khu vực bảo vệ bãi giống, quy định sản lượng khai thác, ngành nghề và công cụ khai thác, quy cỡ khai thác còn hạn chế, vì vậy, đây là một trong những nguyên nhân làm suy giảm nguồn lợi.

* Về tái tạo nguồn lợi: Hiện tại chưa có nguồn vốn ổn định để tái tạo thường xuyên giống thuỷ sản ở thuỷ vực, việc thả giống xuống hồ là do từng địa phương bố trí nguồn vốn, tuỳ theo ngân sách từng năm mà tỉnh bố trí kinh phí cho việc thả giống. Những hồ do nhiều tỉnh quản lý thì chưa có sự phối hợp chặt chẽ về quy định số lượng giống thả, loài cần tái tạo, do vậy rất bị động, chưa xã hội hoá được công tác tái tạo nguồn lợi thuỷ sản.

PV: Khu vực miền núi là vùng đầu nguồn sinh thuỷ có vai trò rất quan trọng đối với các loài sinh vật sống trong nước hiện đang bị tàn phá và nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Theo ông để ngăn chặn và chấm dứt trình trạng này, Cục có chiến lược gì để phát triển bền vững nguồn lợi thuỷ sản miền núi?

TS-CTV: Cục đã và đang triển khai một số nội dung thuộc chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thuỷ sản đến năm 2010 (Chương trình 131), cụ thể như sau:
1. Phục hồi, tái tạo và phát triển nguồn lợi thuỷ sản:

Hướng ưu tiên là sản xuất giống nhân tạo những loài thủy sản quí, hiếm đang bị đe dọa, thả bổ sung và cải thiện môi trường sống của các loài thuỷ sản, nhằm nhanh chóng khôi phục lại khả năng tự tái tạo, phục hồi mật độ quần thể của các giống loài thuỷ sản đã bị khai thác quá giới hạn cho phép và lấy lại cân bằng sinh thái, ổn định quần xã sinh vật trong các thuỷ vực.

2. Bảo vệ, bảo tồn đa dạng thuỷ sinh vật:

Nội dung hoạt động chính là xây dựng và thực hiện chương trình quốc gia bảo vệ đa dạng thuỷ sinh vật, bảo tồn các loài động thực vật thuỷ sản quí hiếm, đang bị đe doạ tuyệt chủng. Chương trình tập trung vào các hoạt động đẩy mạnh thiết lập các khu bảo tồn nội địa. Khôi phục các khu vực quan trọng như bãi đẻ, nơi tập trung các loài thuỷ sinh vật còn non hoặc các khu vực cư trú của các loài thuỷ sinh vật quí, hiếm, có giá trị kinh tế, khoa học cao.

3. Giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản:

Các hoạt động ưu tiên là xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hành động quốc gia về truyền thông, nhằm tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản, bao gồm:

- Tổ chức các lớp tập huấn cho ngư dân và cán bộ địa phương, đặc biệt là trưởng, phó Công an các xã vùng hồ hiểu về pháp luật Thuỷ sản và nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản.

- Các Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn thủy sản được phát thường xuyên trên các phương tiện thông tin đại chúng như phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương.

- Tranh ảnh và áp phích cổ động, báo chí Trung ương và địa phương.

- Chương trình giáo dục về bảo vệ nguồn lợi và môi trường sống của các loài thuỷ sản ở tất cả các bậc học.

Xin cảm ơn Tiến sỹ!

PV: Lê Nguyễn

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Đại Sơn từ cây mía thoát nghèo (10/2006)
  •  
  • Bí thư Chi bộ-Trưởng xóm làm kinh tế giỏi (10/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,885,008


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs