Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Phát triển bền vững cho vùng cao Lục Ngạn: Hướng đi nào cho tương lai?

 06/10/2006

Cảnh “ra đồng...trông mưa” vẫn diễn ra nhiều nơi ở vùng cao Lục Ngạn.

Chỉ mất mùa chưa đầy 1 vụ lúa mà đã xảy ra tình trạng thiếu đói cục bộ, đói đến “đứt bữa” thì quả là chuyện lạ. Hơn nữa, điều đó lại xảy ra đối với huyện Lục Ngạn, một huyện hiện có diện tích trồng Vải thiều lớn nhất nước, tổng giá trị sản lượng hàng năm đạt trên 1.400 tỷ đồng (năm 2005) lại càng là chuyện lạ!?

Vùng cao Lục Ngạn, nhìn từ một vụ “đói”

Chúng tôi có mặt ở xã Cấm Sơn và Xa Lý, 2 trong 12 xã vùng cao đặc biệt khó khăn của huyện Lục Ngạn (Bắc Giang) khi vụ đói giáp hạt vừa đi qua. Trên con đường từ thị trấn Chũ, qua Biên Sơn, Phong Vân, Tân Sơn, quang cảnh trước mắt không còn như cách đây hơn 1 tháng. Những ruộng lúa trải dài ven đường đang lên xanh thay cho cỏ dại vàng vọt và đất khô rang... Xã Cấm Sơn hiện còn gần 800 hộ nghèo (chiếm 90% tổng số dân), trong đó có 49 hộ thiếu đói “đứt bữa” trong thời gian qua. Ghi nhận của chúng tôi tại gần 49 hộ ở các thôn Cấm, thôn Họa, Ao Vường, xóm Mới... ở thời điểm này, cuộc sống của người dân nơi đây đã trở lại bình thường nhưng cái đói đến đứt bữa với nhiều hộ thì vẫn là nỗi day dứt, trăn trở, rung lên hồi chuông cảnh tỉnh.

Theo báo cáo của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện Lục Ngạn, toàn huyện có 1.356 hộ thiếu đói. Đỉnh điểm là trong các tháng 5-7, kéo dài đến cuối tháng 8, nhiều gia đình trong nhà không còn một hạt gạo, nhiều ngày liền phải ăn ngô, rau củ để cầm cự với cái đói. Điển hình như các hộ ông Hoàng Văn Minh (Cấm Sơn), bà Lý Thị Lành (Xa Lý), ông Nùng Văn Bổn (Tân Sơn)... Sau khi nhận được tin báo, Huyện ủy, UBND huyện đã thành lập nhiều đoàn cán bộ đi các xã tìm hiểu tình hình và tổ chức cứu trợ. Đến nay đã có hơn 300 triệu đồng cùng nhiều lương thực được các cơ quan, ban ngành và nhân dân trong, ngoài huyện đóng góp giúp đỡ cho các hộ nói trên. Trong buổi làm việc với phóng viên Báo Dân tộc và Phát triển, ông Thân Văn Khánh, Phó Chủ tịch UBND huyện Lục Ngạn quả quyết: “Đến thời điểm này, trên địa bàn huyện không còn hộ đói. Số lương thực huyện cứu trợ cho các hộ sẽ đủ cầm cự đến khi vụ Hè Thu được thu hoạch”. Ông Khánh cho rằng, nguyên nhân chính của tình trạng đói vừa qua là do hạn hán kéo dài từ cuối năm 2005 khiến hầu hết diện tích lúa vụ Xuân và hoa màu ở các xã vùng cao mất trắng. Đối với đồng bào các xã vùng cao, lương thực dự trữ, tài sản tích lũy hầu như không có. Trong khi đó, cơ cấu kinh tế vùng cao (nông nghiệp là chính) nằm ở mức thấp; diện tích cấy lúa nước ít lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết; trình độ lao động thấp; khoa học kỹ thuật hầu như không được áp dụng... Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận nguyên nhân chủ quan trong việc xử lý tình huống của các cấp chính quyền địa phương. Nếu nắm chắc tình hình cơ sở, sớm báo cáo lên cấp trên để tìm ra hướng giải quyết tối ưu, có thể là chống hạn cứu lúa, thì chưa chắc vụ mùa đã mất, dân đã bị đói... 

Hướng đi nào cho tương lai?

Được biết, khu vực vùng cao Lục Ngạn có 16 dân tộc anh em chung sống, trong đó đa số là đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chí. Điều kiện khí hậu khắc nghiệt, đất đồi núi bạc màu, độ rửa trôi lớn. Tuy nhiên, việc 1.356 hộ dân ở các xã vùng cao của huyện Lục Ngạn rơi vào cảnh thiếu đói mới chỉ xảy ra lần đầu tiên trong vòng hơn 10 năm trở lại đây. Tìm lời giải cho bài toán này, chúng tôi đã có chuyến “thị sát” khu vực lòng hồ Cấm Sơn. Hồ có diện tích mặt nước khoảng 250ha, thuộc địa bàn quản lý của các xã Tân Sơn, Tân Hoa, Cấm Sơn và Sơn Hải (huyện Lục Ngạn). Hồ chứa nước lớn như vậy nhưng nghịch lý ở chỗ, khi xây dựng hồ (năm 1966) các nhà chuyên môn lại thiết kế cửa cống xả về tưới cho cánh đồng các huyện vùng thấp của tỉnh Bắc Giang. Trong khi đó các xã vùng cao, nơi quản lý mặt nước lại chịu cảnh cây lúa chết khô, chết khát vì không chủ động được nguồn nước tưới!? Về việc này, những người dân quanh vùng cho biết do hiện nay, diện tích mặt nước bị thu hẹp đáng kể so với trước, việc bơm nước từ hồ ra ruộng rất khó khăn, gần như không thể thực hiện được. Trong khi đó, các công trình thủy lợi khác nằm trong các Chương trình của Nhà nước đầu tư cho vùng cao Lục Ngạn chưa phát huy hiệu quả đúng mức. 

Về lâu dài để giải quyết triệt để vấn đề đói nghèo cho các hộ dân vùng cao mà cấp ủy đảng và chính quyền huyện Lục Ngạn đưa ra là hỗ trợ về giống, vốn; phát triển diện tích hoa màu, thay đổi cơ cấu cây trồng (đặc biệt cây trồng giá trị cao như Vải thiều, Hồng Nhân Hậu) thay thế cây lúa nước; tích cực dự trữ nước cho sản xuất; chăm sóc đàn gia súc, gia cầm; phòng chống dịch bệnh; giao đất, giao rừng... vẫn cho thấy sự bất ổn nếu như không chủ động được nguồn nước tưới. Trong khi đó, mặc dù rất quyết tâm không để tình trạng thiếu đói xảy ra, nhưng hầu hết các hộ dân vùng cao lúng túng không đưa ra được phương án nào khả dĩ để thoát đói, giảm nghèo, không ít bà con vẫn có tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự hỗ trợ của Nhà nước. Không lẽ, cứ hạn hán mất mùa thì lại tổ chức cứu đói? Lời giải cần bắt đầu từ các cấp ủy đảng, chính quyền, và các ngành chức năng của địa phương nên đẩy mạnh phát huy nội lực, chủ động, sáng tạo, thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là thay đổi nếp nghĩ, cách làm, khơi nguồn nội lực... của mỗi người dân nơi đây. 

Phóng sự của Trần Thường - Trung Thành 

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Kon Tum: Tất cả các ngành quản lý đều thiếu cán bộ (10/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,944,963


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs