Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 08/09/2006
Chiến khu ai nhớ, ai về
Tôi không nhớ rõ Quốc lộ 279 đầu mối của nó ở đâu và dài bao nhiêu cây số, chỉ biết nó chạy từ Lào Cai sang Xín Mần, Hoàng Su Phì, khi đến thị trấn Tân Quang (Bắc Quang) thì gặp Quốc lộ 2, tiếp tục về xuôi. Đến ngã ba Pác Há rẽ trái, con lộ xuyên qua tiểu khu Cách mạng hơn 60 km gặp huyện Chiêm Hoá (tỉnh Tuyên Quang) rồi toả đi muôn ngả; tiểu khu Trọng Con được biết đến với thời điểm trước Cách mạng tháng Tám năm 1945 gồm 9 xã: Vô Điếm, Kim Ngọc, Đồng Tâm, Đồng Tiến, Bằng Hành, Thượng Bình, Liên Hiệp, Hữu Sản, Đức Xuân, Bằng Hành được coi là trung tâm của cả vùng, có lúc đồng bào gọi là Tổng Bằng Hành hoặc tiểu khu Lý Tự Trọng.

Đây là một vùng quê trù phú, là vựa thóc của tỉnh Hà Giang, rộng đến 4000 cây số vuông, gần 30.000 dân, có 16 dân tộc anh em; nhưng đông nhất là 2 dân tộc: Tày và Dao… Địa hình bán sơn địa, nửa trung du và nửa miền núi. Những dải đồi thoai thoải hình bát úp, rừng keo, rừng mỡ, rừng vầu, rừng nứa đan xen xanh tốt, tầng cao hơn là rừng nguyên sinh trải dài, xen giữa những dải rừng là những thung lũng xanh bằng phẳng ngút ngàn lúa, ngô. Đúng là “Trọng Con gạo trắng nước trong”. Nguồn nước chủ động nên lúa, ngô năng suất, có nơi lúa cũ để tồn đến ba năm, chỉ dành cho chăn nuôi. Bóng cọ, nếp nhà sàn, bóng áo chàm, máng lần… Đó là những nét đặc trưng, thân thương nhất của vùng tiểu khu cách mạng…

Khoảng 10 năm về trước, nhân sự kiện khai trương nhà truyền thống tiểu khu Trọng Con, đón nhận bằng di tích lịch sử cách mạng cấp Quốc gia, tôi hăm hở vào vùng đất ấy với hi vọng có thể viết được một cái gì đó.

Từ ngã ba Pác Há đến bến đò Sảo gần 25 cây số, gọi là quốc lộ nhưng mặt đường chỉ đủ cho một làn xe qua, ổ voi, ổ gà nham nhở, nứa giang cỏ dại rậm rịt hai bên, nhà cửa của đồng bào thưa thớt. Chiếc xe u oắt của cơ quan tôi đã quá già nua, song bến Sảo còn già hơn, đặc biệt là mấy con đò chở khách, chiếc xà lan nhỏ bé cũ kỹ. Sông Lô ở chỗ này mở rộng, dòng nước ngầu ngầu phù sa lấp lánh dưới nắng mặt trời buổi sớm. Thật đúng là “ngày đàng gang nước”. Có thể là quá tải hay sức chở của chiếc xà lan có hạn mà nó chòng chành, nạng nề vượt sông, nước mấp mé muốn tràn vào trong khoang, ai nấy nín thở, im lặng… May mà chúng tôi có thẻ nhà báo nên được ưu tiên, nếu xếp hàng lần lượt e đến tối mới sang được, ngoái lại nhìn dòng xe và hành khách cứ nối đuôi dài mãi… Anh bạn đồng nghiệp nói với tôi: Có lẽ con phà này chừng nửa thế kỷ rồi. Tôi góp vào: Cũng may mà có cái thứ cũ kỹ ấy không thì… Khi cập bến an toàn, lòng tôi cứ xao xuyến một nỗi niềm, những tiếng gọi “đò ơi” tha thiết bạt trong gió đêm mưa bỗng văng vẳng bên tai, hoặc những ngày nước lên hình ảnh con đò bé nhỏ chấp chới vật lộn với dòng thác lũ thật là nguy hiểm và không ít số phận đã bị thuỷ thần cướp đi… Phải có một cây cầu lớn qua sông, không riêng gì tôi, đồng bào các dân tộc ở hai bờ sông Lô này đều có mơ ước như vậy, niềm mơ ước đến cháy bỏng và để hiểu tại sao vùng tiểu khu cách mạng kinh tế - xã hội không phát triển lên được.

Xe chúng tôi chạy chẳng vào trung tâm xã Bằng Hành, lúc này trời đã ngả sang chiều, mặc dù là đầu mùa thu nhưng cái nắng còn gay gắt. Cầu Thác Vệ là cây cầu cứng vững chắc nối sang bờ phía đông. Dòng suối trong xanh chảy qua xã đổ ra sông Lô với những hòn cuội trắng lấp loá. ở đầu cầu bên này có bụi tre gai toả bóng râm che mát, lá đã ngả màu vàng bay lả tả trong gió. Tiếng cối giữa gạo nước thì thụp, tiếng con nước miệt mài chuyển nước lên đồng rì rầm, kẽo kẹt đều đều… ở đây dòng nước không sâu lắm, có bóng râm của hàng cơi già, thật lý tưởng cho trẻ em tắm giặt, mò cua, bắt cá. Nhìn những thân hình bé nhỏ, trần trùng trục, chắc như hạt mít, lặn ngụp, té nước, tiếng cười ré lên trong trẻo mà lòng tôi bồi hồi, giá được quay lại quãng đời tuổi thơ một lần nữa, để quên đi những nhọc nhằn lo toan ở cõi nhân sinh này.

Nhà truyền thống cách mạng tiểu khu Trọng Con toạ lạc trên một quả đồi cao, mặt quay về hướng Đông phía cây cầu Thác Vệ, quy mô vừa phải, thoáng mát và trang nghiêm. Tôi xoè lửa, thắp hương thành kính tưởng nhớ đến các anh hùng, chiến sĩ cách mạng, những người dân áo chàm chân đất đã nhen nhóm ngọn lửa cách mạng đầu tiên giữa đại ngàn mênh mông ở vùng biên giới xa xăm cực Bắc Tổ quốc, với bao nhiêu gian lao, thiếu thốn, nhọc nhằn và nguy hiểm… Để có một ngày cờ đỏ sao vàng, cờ búa liềm thiêng liêng bay đỏ trời, đỏ đất, chế độ thực dân phong kiến sụp đỏ, một kỷ nguyên mới bắt đầu… ngọn lửa cách mạng ấy cùng với ngọn lửa căn cứ Đường Thượng, Thái An, Nghĩa Thuận… góp phần rất quan trọng giải phóng hoàn toàn tỉnh Hà Giang chấm dứt hơn 80 năm cai trị của chế độ thực dân… Việc khai trương nhà truyền thống là một sự kiện, bởi vậy khách ở tỉnh, huyện, các xã lân cận kéo về rất đông. Em gái Tày, Ma Thị Hương tốt nghiệp Đại học Văn hoá khoa Bảo tàng có dáng hình thon thả, mặt trái xoan, mái tóc chảy dài sau lưng, giọng nói rất ấm, truyền cảm đưa chúng tôi trở lại buổi đầu hào hùng của cuộc nổi dậy tháng Tám. Nếu so với vùng An toàn khu Định Hoá (Thái Nguyên), Tân Trào (Tuyên Quang)… thì tiểu khu Trọng Con khiêm tốn hơn, sức ảnh hưởng cũng vừa phải, nhưng lại có ý nghĩa to lớn thể hiện đường lối cách mạng, quyết tâm của Đảng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc đất nước đã đến được với đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới. Lớn hơn là niềm tin mới đã được tạo lập trong đời sống vật chất cũng như tinh thần của đồng bào các dân tộc nơi đây.

Dòng sông Lô vẫn tha thiết về xuôi, dòng suối Thác Vệ còn đó, hòn đá thề vẫn đây… tất cả đã đi vào lịch sử thành niềm tự hào thiêng liêng của vùng đất. Em gái Ma Thị Hương ơi, em chính là lớp tri thức mới của vùng quê cách mạng, đang cùng Đảng bộ và đồng bào các dân tộc góp công sức, trí tuệ xây dựng kiến tạo quê hương hứa hẹn những mùa no ấm lại về…

Tôi trở lại tiểu khu Trọng Con sau 10 năm, đúng vào dịp toàn dân tộc kỉ niệm ngày độc lập của đất nước. Cờ đỏ sao vàng reo trên từng mái nhà dân, cổng chào, khẩu hiệu, băng zôn, cờ chuối rực rỡ tung bay trước các công sở… đúng là ngày hội - ngày hội non sông được giải phóng.

Quốc lộ 279 bây giờ thênh thang hai làn xe, nhựa áp phan phẳng lỳ, nhà ở của dân san sát hai bên đường. Bầu trời mùa thu cao xanh lồng lộng trên đầu, làm lòng người dễ say tình, say cảnh. Khi đứng trên cây cầu Sảo hoàn thành mấy năm trước, mặt cầu rộng 7 m, dài 173,3 m. Đây là cây cầu hiện đại theo kỹ thuật mới được áp dụng đầu tiên tại Hà Giang. Tôi dừng xe, thả bộ trên cây cầu lớn, tay đặt nhẹ trên thành lan can mát rượi - Dòng sông Lô về xuôi mải miết, bồi lắng phù sa cho đôi bờ ngô lúa xanh tươi. ở phía trên không xa lắm, con đò cũ kỹ ghếch mũi lên thẻo cát, con phà cũng vậy, bến Sảo ngày xưa giờ chỉ còn là kỉ niệm… Dòng sông Lô ở chỗ này như một tấm gương phản chiếu, lắng sóng vào bề sâu tâm tưởng như ý nghĩ con người… ở đầu cầu phía Đông, phố Sảo sầm uất, những ngôi nhà hai ba tầng mọc lên, cửa hàng, cửa hiệu hàng hoá, quán xá tấp nập người vào ra. Có thể nói phố Sảo bây giờ là đầu mối giao thương quan trọng của cả vùng.

Anh Nguyễn Hữu Ninh, nghệ sĩ nhiếp ảnh từng là giáo viên dạy học ở vùng tiểu khu những năm 60 của thế kỉ trước, sau một hồi chọn cảnh bấm máy, tâm sự với tôi: Như vậy có con đường này cũng phải mất 40 năm. Anh kể ngày trước dạy học phải đi bộ từ huyện vào, lăn lộn đến từng thôn bản để vận động đồng bào mở trường, dựng lớp cho con em ăn học, buổi ấy mới thật là gian nan… Một vùng rừng thiêng nước độc âm u, đầy muỗi và vắt xanh, hổ beo lượn lờ vồ người, bắt lợn của dân diễn ra thường xuyên… Anh quả quyết: Quốc lộ 279 này cũng là kỳ tích của Đảng bộ đồng bào các dân tộc Hà Giang, nó chỉ đứng sau con đường Hạnh Phúc và đường lên chóp nón Lũng Cú… Anh ríu rít như trẻ lại, ngôi trường ngày xưa anh dạy học, giờ thành trường cấp III rồi, các em không phải ra trường huyện học nữa, mà tỉ lệ khá giỏi cũng rất cao, nhiều em đỗ hai trường đại học, nhiều học sinh của anh đã trưởng thành giữ những trọng trách quan trọng từ xã đến tỉnh. Còn nữa: Bệnh viện cũng đã được đưa vào sử dụng, thuận lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ, chữa trị bệnh cho nhân dân. Nhà thư viện văn hoá xã được xây dựng đến cấp thôn bản.
Trên con đường quốc lộ xe chở khách ra huyện, sang Chiêm Hoá thuận lợi, xe tải chở vật liệu, chở nông sản, gia cầm xuôi ngược, xe máy các kiểu vun vút trên đường… Vùng quê cách mạng hôm nay đúng là chuyện cổ tích thời kì đổi mới.

Anh Hoàng Văn Cung, dân tộc Tày, Phó Văn phòng huyện uỷ Bắc Quang tâm sự với tôi, đời sống của đồng bào các dân tộc vùng này khá lắm, lương thực bình quân 700 kg/người/năm. Nhiều gia đình do biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào canh tác, chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi hợp lý, như: Trồng rừng, thâm canh lúa cao sản, trồng cây ăn quả, chăn nuôi cá, bò, dê… mà trở nên giàu có…

Anh đưa chúng tôi vào thăm một gia đình người Tày thôn Nậm Mai, một thôn bản giàu có của Bằng Hành. Con đường liên thôn bằng bê tông chạy qua cánh đồng xanh rì, cánh cò trắng rập rờn bay ngang. Vụ lúa hè thu dâng hương ngan ngát. Đây là ngôi nhà sàn truyền thống nằm bên một bìa rừng già, tạo thế vững chắc, mái ngói đã thẫm màu thời gian, máng nước lần bằng cây vầu già dẫn nước từ nguồn về đến chân cầu thang chín bậc. Ngôi nhà ba gian hai chái thoáng mát, bếp lửa đặt giữa, trên có giác bếp sàn tre ám khói bồ hóng, một túm hạt giống treo lơ lửng. ống bương đựng chè nút lá chuối khô để trên ấy, nơi thờ cúng tổ tiên có bàn tay chăm chút, góc học tập của các cháu, buồng ngủ, nơi tiếp khách đều gọn gàng ngăn nắp, chiếc ti vi 21 inch của Nhật đặt một góc cả nhà xem được. Dưới gầm sàn được láng xi măng, 2 chiếc xe máy dựng sát nhau. Chuồng lợn, chuồng trâu, nhà vệ sinh được bố trí xa nhà… Tôi nhìn ngắm căn nhà mà thầm ước, nếu mà “rinh” được nó về thị xã hoặc thành phố còn quý gấp nhiều lần nhà xây, cứ như một cái lô cốt bằng bê tông lạnh lẽo, ngột ngạt…

Cụ Nông Phúc Thản, chụm lửa, rót nước mời khách. Hỏi thăm thì biết cụ đã gần 80 tuổi đời, 50 tuổi Đảng. Cụ là một trong những nhân chứng của xã Bằng Hành chứng kiến cuộc mít tinh lịch sử ngày 24/6/1945 ở chỗ hòn đá thề, đầu cầu Thác Vệ, thể hiện sức mạnh của nhân dân tiểu khu, biểu dương, ủng hộ cách mạng, ủng hộ mặt trận Việt Minh, chứng kiến sự ra mắt của Uỷ ban cách mạng lâm thời tổng Bằng Hành. Cũng tại buổi mít tinh này cụ và đồng bào các dân tộc địa phương, đã chứng kiến việc đốt bằng sắc, ấn triện của bọn địa chủ cường hào đánh dấu một trang sử mới trong việc xoá bỏ chế độ phong kiến thực dân đã tồn tại lâu đời như một thứ ung nhọt trong đời sống của đồng bào ta.

Mặc dù là lớp người cao niên, nhưng cụ còn thông tuệ, kể chuyện không sót một chi tiết nào… Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngày 01/6/1945 đồng chí Lê Quảng Ba chỉ huy đội vũ trang tuyên truyền gồm 54 chiến sĩ, xuất phát từ Cao Bằng đã về đến tổng Bằng Hành. Để đảm bảo bí mật an toàn, các đồng chí trong Ban chỉ huy chia thành từng nhóm đi tuyên truyền, xây dựng cơ sở cách mạng. Sau gần một tháng hoạt động, đội vũ trang tuyên truyền đã mở được nhiều lớp đào tạo cán bộ ngắn ngày, thành lập ra các đội du kích, tự vệ và các đoàn thể cứu quốc. Phong trào cách mạng lớn mạnh từng ngày…

Tôi lặng lẽ ghi chép từng lời cụ kể và chợt nhớ đến 2 câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đình Thi: “Nước Việt Nam từ trong máu lửa/ Rũ bùn đứng dậy sáng loà…”, cô đọng và khái quát đúng với tinh thần cuộc nổi dậy tháng Tám vĩ đại ấy...

Chiều tắt nắng trên đỉnh Khau Vìn, chân trời dâng lên một màu tím da diết, ngôi sao hôm đã thức dậy long lanh như màu mắt của người em gái Tày đang vào tuổi yêu. Lúc này không hiểu tại sao tôi lại nhớ đến cồn cào hương cốm mùa thu và những đêm giã cốm thật vui vẻ mà tôi đã từng chứng kiến. Lúa nếp vừa độ mẩy hạt được người già chọn lựa cẩn thận hái về, nướng chín trên than rồi đem bỏ vào máng giã (đồng bào Tày gọi là kéng loỏng). Chiếc máng gỗ dài cỡ 2 m, nặng trịch. ít nhất là 4 đôi trai thanh gái tú đứng đối diện, khi bỏ lúa vào máng gỗ là bắt đầu cuộc vui. Những cánh tay vươn lên nhịp nhàng như diễn viên lành nghề, tài hoa biểu diễn bộ gõ và giai điệu của núi rừng, bản làng được tấu lên: Cụp… cùm… cum, cụp… cùm… cum…, đều đều náo nhiệt vang xa. Bọn trẻ có quy ước khi mấy nhịp chày đã nện xuống lòng cối, đến lúc nào thì hai chày va nhau, bao giờ thì chày giã va vào thành máng… Tiếng ríu rít cười nói, tiếng hát cọi, iếu trong văn vắt cất lên: “Hạt thơm này công em, hạt dẻo này công chàng/ Quả còn tua 7 sắc, chàng đã gửi cho ai…”, xong rồi bọn trẻ rủ nhau sang nhà khác hộ giã cốm, có đôi muốn tâm tình riêng, ở lại bỏ rơm vào lấy cớ giã tiếp, bụi cám bay mờ ảo trong ánh điện dưới gầm sàn. Mẻ cốm đầu được dâng lên mời tổ tiên và khi vầng trăng vừa nhô lên khỏi đỉnh rừng, sàn phơi thóc được các mế trải chiếu cói ra, biến thành nơi tụ tập của cả gia đình, khách quý ngồi ngắm trăng, ăn cốm mới, chấm với chuối tiêu trứng quốc, ăn khẩu lam, bánh trái hoa quả mùa thu, vừa ăn vừa kể chuyện cổ tích. Có cô giáo trẻ ở trường huyện về, gặp cuộc vui liền ngân nga một khổ thơ thật hay: “Đầy sàn trăng cả nhà/ Quây quần ăn cốm mới/ Vầng trăng cũng dịu dàng/ Thắp đèn trên đỉnh núi”. Còn các cụ già trầm ngâm bên bếp lửa khuya, uống rượu ngẫm ngợi, hân hoan nhìn đàn con trẻ…

Tiếng kẻng loỏng vang xa năm làng mười bản, hay tình ca mới trên quê hương cách mạng.

Hơn 60 năm qua rồi, chiến khu ơi biết có ai nhớ, ai về…

Cao Xuân Thái

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,895,371


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs