Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/07/2006
Đàn nước của dân tộc Xơ-đăng
Là một trong 54 cộng đồng dân tộc Việt Nam sống tập trung ở quần sơn Ngok Linh - ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn (2598m) bao gồm tỉnh Kon Tum, Nam Trà Mi (Quảng Nam), số ít khác sống rải rác ở Bắc Trà Mi, Phước Sơn (Quảng Nam), Sơn Tây (Quảng Ngãi)... Tuỳ theo tên gọi địa phương, dân tộc Xơ-đăng có tên gọi khác nhau theo từng nhóm như: Ca-dong, Xơ-teng, Tơ-Drá, Mơ-mân, Tha-lăng, Con-lăng, Tà-trĩ (còn gọi là Tà-trẽ),... hiện nay dân tộc Xơ-đăng có số dân khoảng 10 vạn người, riêng tại địa bàn tỉnh Quảng Nam có hơn 3 vạn người. Tiếng Xơ-đăng thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khmer.

Hầu hết các loại nhạc cụ của dân tộc Xơ-đăng tương tự với các loại nhạc cụ của đồng bào Nam Trường Sơn và Tây Nguyên như: Cồng chiêng (Arap), trống (Hơgơl Dash, Kơr pát), đàn Klôngpút, đàn nước... theo nhà nghiên cứu dân tộc học Nguyễn Tri Hùng (hiện nay là Phó trưởng Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam) cho biết: Các tộc người ở miền núi Trường Sơn và Tây Nguyên đều biết làm đàn nước, tuy nhiên độc đáo hơn cả là đàn nước của người Xơ-đăng. Người Xơ-đăng gọi loại đàn này là Coan (do cách ghi âm mà nhiều người viết tên gọi khác nhau như: Cong, Koan, Quang, Quan, H’cuan...).

Giống như các dân tộc khác, người Xơ-đăng quan niệm tạo ra Coan là để giữ nương rẫy, play (làng) yên bình; xua đuổi thú giữ, chim muông phá hoại mùa màng...; đồng thời họ còn tin rằng, có được tiếng Coan hay là để mời gọi các thần núi, thần suối, thần đá, thần cây... (nói chung là các vị thần tốt) về sống với dân làng và không để cho các con ma sông, ma suối, ma nước... (nói chung là tà ma) quấy nhiễu đời sống và con người trong cộng đồng của họ. Vì lẽ đó, Coan trở thành vừa là vật thiêng trong đời sống tâm linh, vừa là nhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hoá tinh thần của người Xơ-đăng. 

Chất liệu để tạo nên loại đàn này là nhóm cây họ tre: Tre, nứa, giang, lồ ô, le... Cách thức để tạo ra đàn gồm nhiều thanh tre, được sắp xếp xen kẽ thanh đặc ruột ở giữa thanh rỗng ruột để khi có dao động thì thanh đặc ruột gõ vào thanh rỗng ruột (nên nhiều nhạc sĩ xếp Coan vào bộ gõ); tất cả các thanh tre này được kết lại với nhau bằng dây mây hoặc dây leo trong rừng. Một sợi dây được kéo dài từ đầu đến cuối cây đàn và buộc vào máng nước được kéo đến con suối gần đó. Khi nước chảy, máng nước dao động kéo sợi dây, và như thế các thanh tre va vào nhau mà tạo nên những tiếng động. Với những thanh tre được kết nối với nhiều kích cỡ to, nhỏ, dài, ngắn và độ rỗng ruột của nó mà tạo nên tiếng trầm, tiếng bổng hoà với tiếng thánh thót của chim hót, tiếng xào xạc lá rơi, tiếng róc rách suối chảy, tiếng đong đưa gió về... và cả tiếng thầm thì của các chàng trai, cô gái ngỏ lời yêu đương. Do nhờ sức nước kéo dây buộc đàn để tạo nên âm thanh mà người ta gọi chung là đàn nước. Nhờ nguồn nước tự nhiên mà khúc nhạc của Coan khi tấu lên lúc thì khoan thai hiền hoà, lúc thì hối hả thúc giục và có lúc dữ dội... (chỉ có điều lúc dữ dội, người ta biết được bão tố sẽ về và thần linh đang giận dữ).

Tuỳ theo sức chảy của từng dòng suối, khả năng của từng làng và sự sáng tạo của nghệ nhân mà đàn nước khắp núi rừng Ngok Linh có kích thước to, nhỏ, rộng, hẹp, cao, thấp khác nhau. Cũng theo lời dẫn của ông Nguyễn Tri Hùng, trong những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cụ Sáu Do (tức Phạm Xuân Thông) đã tìm thấy không ít Coan khắp núi rừng Trà My có diện tích đến hàng trăm mét vuông được kết nối đến vài trăm thanh tre rỗng ruột. Đã gọi là đàn, tất nhiên Coan phải hội tụ đủ các yếu tố của loại nhạc cụ: tiết tấu, cường độ âm thanh, nhịp điệu... âm sắc của Coan tương tự như tiếng đàn Tơ-rưng của các dân tộc vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên, khúc nhạc của Coan khi tấu lên phức tạp hơn tiếng Tơ-rưng, bởi lẽ có rất nhiều thanh tre được gõ cùng một lúc, tạo nên tiết tấu bè. Và đặc biệt hơn các loại nhạc cụ khác, Coan không cần nhạc công hay người biểu diễn. Chính vì thế mà tiếng Coan là tiếng vô tận, không có giới hạn về thời gian; chỉ khi nào một thanh tre nào đó bị hỏng thì nghệ nhân được dân làng tín nhiệm tìm một thanh khác thay thế.

Ngày nay, do nhiều yếu tố mà Coan ít còn hiện diện ở khắp núi rừng Ngok Linh.

Đầu năm 1987, nghệ nhân Piêu ở thôn 3, xã Trà Cang, huyện Trà Mi đã thiết kế một cây đàn nước và được trưng bày tại Trung tâm Văn hoá - thông tin tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng làm không ít người sững sờ. Hiện nay cây đàn này được lưu giữ tại Bảo tàng thành phố Đà Nẵng (cây đàn chiếm diện tích khoảng 20 m2 gồm 71 thanh tre rỗng ruột).

Đến cuối năm 2005, Việt Nam đã có hai di sản văn hoá phi vật thể thế giới được UNESCO công nhận là Nhã nhạc cung đình Huế và Cồng chiêng Trường Sơn - Tây Nguyên, thế mà có rất nhiều loại hình văn hoá phi vật thể khác chưa được các ngành có chức năng đưa vào danh sách cần được bảo tồn, trong đó có Coan (ít nhất là di sản văn hoá cấp tỉnh).

Mong sao các tổ chức văn hoá, bảo tồn, bảo tàng, du lịch... có phương án phục dựng Coan tại các làng của người Xơ-đăng như phục dựng các Gươl ở các làng người Cơtu; và nếu có thể, Coan sẽ hiện diện tại các điểm du lịch trong tỉnh như Hội An, Mĩ Sơn, Tam Kì, Chu Lai... nhằm giới thiệu loại nhạc cụ độc đáo này với bạn bè trên khắp thế giới.

Phan Thanh Minh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,217,177


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs