Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/07/2006
Đổi mới thiết chế buôn làng trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tỉnh Gia Lai nói riêng, Tây Nguyên nói chung là địa bàn có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống từ rất lâu đời; chung sức, chung lòng chống chọi với thiên tai, địch hoạ, tạo dựng cuộc sống, giữ gìn và phát triển kinh tế - xã hội. Từ khi có Đảng lãnh đạo, nhất là sau hơn 20 năm đổi, đời sống của đồng bào các dân tộc ở Gia Lai và Tây Nguyên không ngừng phát triển, đạt được những thành tựu rất quan trọng, có ý nghĩa lịch sử.

Gia Lai có hai dân tộc thiểu số chủ yếu là Jrai và Bahnar, chiếm tỉ lệ dân số hơn 43% toàn tỉnh. Người Jrai và Bahnar có một nền văn hoá giàu bản sắc, được hình thành và phát triển từ lâu đời, chứa đựng nhiều giá trị nghệ thuật, giá trị tinh thần, nhân văn sâu sắc. Việc UNESCO vừa qua cấp bằng công nhận không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu, di sản văn hoá phi vật thể của nhân loại (trong đó có sự đóng góp quan trọng của Gia Lai), bước đầu đã minh chứng cho điều đó.

Dân tộc Jrai, Bahnar có truyền thống tổ chức theo hình thức cộng đồng làng, buôn; sản xuất, sinh hoạt, bảo vệ trật tự cộng đồng được chi phối bởi luật tục - những qui phạm xã hội hay tập quán pháp. Những qui phạm xã hội: qui ước, nguyên tắc, chuẩn mực xử sự giữa người với người và hình thức sinh hoạt, tổ chức cộng đồng… tạo nên thiết chế của buôn, làng. Thông qua thiết chế này, sự cố kết cộng đồng, sức mạnh đoàn kết trong việc giữ đất, xây dựng buôn làng và chống giặc ngoại xâm đã phát huy nhiều giá trị tốt đẹp, góp phần quan trọng trong tiến trình lịch sử của dân tộc Jrai, Bahnar.

Đi sâu tìm hiểu khái niệm thiết chế buôn, làng, hẳn còn một số khía cạnh cần tiếp tục làm sáng tỏ, để thống nhất trong cách hiểu và vận dụng, góp phần vào việc xây dựng buôn làng nói riêng ở tỉnh Gia Lai và đất nước nói chung. Theo Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1994 của Văn Tân: thiết chế (còn gọi thể chế) là toàn bộ cơ cấu xã hội do luật pháp tạo nên. Đây có thể là nghĩa rộng của khái niệm thiết chế. Theo Việt Nam Tân tự điển của Thanh Nghị, thiết chế có nghĩa là việc thiết lập, chế định (ví dụ thiết chế cơ quan văn hoá).

Từ những khái niệm nêu ra ở trên, ta có thể hiểu, thiết chế buôn, làng hiện nay là hình thức thiết lập tổ chức tự quản cộng đồng của buôn, làng dựa trên những qui định của pháp luật Nhà nước và những qui phạm, qui ước xã hội cụ thể theo truyền thống văn hoá, tập quán đặc trưng trong từng làng, buôn ở mỗi tộc người.
Liên hệ thực tế hiện nay ở Gia Lai và Tây Nguyên giúp chúng ta thấy rõ hơn điều này. Theo qui định của pháp luật, trong từng buôn làng có trưởng thôn, trưởng buôn làng được nhân dân bầu lên nhằm thực hiện công việc quản lí nội bộ dân cư ở cộng đồng do Nhà nước (chính quyền cơ sở) qui định cụ thể; đồng thời bên cạnh đó còn có chi bộ, tổ đảng, các chi hội đoàn thể nhân dân (các tổ chức chính trị - xã hội) để thực hiện vai trò lãnh đạo và tập hợp quần chúng thực hiện đường lối lãnh đạo của Đảng và quản lí của Nhà nước. Song song với hình thức tổ chức lãnh đạo, quản lí theo đường lối của Đảng, pháp luật Nhà nước và điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội, hiện ở các buôn làng đang tồn tại hình thức tự quản truyền thống thông qua già làng (hoặc hội đồng già làng), một số nơi còn có sự hiện diện của các thầy cúng (theo tín ngưỡng truyền thống của từng dân tộc), gần đây một số nơi có sự hiện diện chức sắc tôn giáo.

Để phát huy tốt vai trò tự quản ở cộng đồng, những năm qua Đảng và nhà nước, từng cấp uỷ, chính quyền cơ sở luôn coi trọng phát huy nhân tố già làng, trưởng buôn, thôn, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số, góp phần tích cực trong việc thực hiện chính sách đại đoàn kết dân tộc, vận động nhân dân chăm lo phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo, giữ gìn và phát triển bản sắc văn hoá, bài trừ mê tín dị đoan, bảo vệ an ninh trật tự an toàn xã hội.

Chủ trương xây dựng làng, buôn văn hoá, xây dựng và thực hiện qui ước, hương ước cộng đồng đã được triển khai rộng khắp, có nơi, có mặt đạt nhiều kết quả tích cực. Đến cuối năm 2005, tỉnh Gia Lai đã có 75.600 hộ được công nhận gia đình văn hoá, chiếm 33% tổng số hộ trong tỉnh; đã công nhận 583 thôn, làng, tổ dân phố văn hoá, chiếm hơn 30% thôn, làng, tổ dân phố trong tỉnh. Toàn tỉnh có 343 đội văn nghệ quần chúng và 668 đội cồng chiêng do nhân dân tự quản, phục vụ yêu cầu sinh hoạt văn hoá, giao lưu nghệ thuật và lễ hội truyền thống ở các buôn làng.

Tuy nhiên, quá trình xây dựng và đổi mới thiết chế buôn, làng làm cho thiết chế này phát huy đầy đủ tác dụng, trở thành “cánh tay nối dài” tích cực của cấp uỷ, chính quyền cơ sở cũng đang đặt ra nhiều vấn đề cần quan tâm suy nghĩ.

Trước hết là làm thế nào để tổng hoà, phối hợp tốt giữa bộ phận thiết chế do luật định (“phép vua”) với bộ phận thiết chế do tập tục, qui ước truyền thống qui định (“lệ làng”), làm cho cả hai nhân tố này hướng chung vào thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức phong trào tự quản ở buôn làng, từ đó thực hiện tốt chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, đưa cuộc sống buôn làng phát triển theo quĩ đạo giàu mạnh, văn minh, đồng thời vừa đảm bảo giữ gìn truyền thống, bản sắc văn hoá tốt đẹp của dân tộc. Điều này không chỉ cần có nhân tố Đảng lãnh đạo với chủ trương đúng, mà rất cần có cơ chế thích hợp mới có thể phát huy tốt nhất, đầy đủ nhất năng lực “nội sinh” trong mỗi cộng đồng làng, buôn. Đồng thời trên cơ sở đó công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở nhằm nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, đồng thời phát huy tri thức dân gian, phong tục tập quán tốt đẹp và những kĩ năng, phương pháp quản lí là rất cần thiết.

Một vấn đề nữa cần quan tâm là xu hướng phát triển của từng cá thể và cộng đồng trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập và phát triển. Trong xu hướng này, trình độ học vấn, kiến thức của cộng đồng, nhất là lớp trẻ tập trung vào thanh niên được sinh ra và giáo dục trong môi trường mới từ ngày đất nước thống nhất đến nay. Xu hướng này đang tạo nên một sinh khí mới, làm cơ sở để đáp ứng môi trường lao động sản xuất công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vì họ có kiến thức để áp dụng kỹ thuật mới trong sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, nâng cao năng suất lao động, vươn lên thoát nghèo, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội. Song chính điều này cũng đang tạo nên những mâu thuẫn nhất định trong đời sống cộng đồng vốn bao đời thể hiện sự khép kín trong sinh hoạt, bình quân trong phân phối lợi ích và “bình quân” cả về tri thức… Trước hết là mâu thuẫn ngay trong nhận thức, quan niệm giữa lớp người lớn tuổi và lớp người trẻ tuổi trước diễn biến của cơ chế thị trường. Trong mỗi gia đình và cộng đồng đang bộc lộ sự lúng túng trong việc định hướng giá trị sống, lối sống và cách thức tạo dựng cuộc sống cho lớp trẻ hôm nay.

Thực ra những mâu thuẫn vừa nêu trên cũng chỉ là biểu hiện chung giữa thế hệ trước và thế hệ sau đã từng và đang diễn ra trong xã hội ta và bất kì xã hội nào đang phát triển. Vấn đề là làm sao để định hướng thật tốt, có những giải pháp hiệu quả trong quản lí xã hội nói chung, phát huy vai trò tự quản phù hợp trong từng cộng đồng làng, buôn, thôn, bản nói riêng trong tình hình mới.

Trên đây là những suy nghĩ, ý kiến nêu lên qua tìm hiểu bước đầu về thiết chế buôn, làng ở Gia Lai hiện nay cũng như những dự báo về xu hướng phát triển của thiết chế tự quản ở các buôn làng Jrai và Bahnar, trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Vấn đề đặt ra, cũng chính là yêu cầu của tình hình mới, nhất là trước những chuyển động, biểu hiện của những mâu thuẫn xã hội phát sinh tất yếu trong quá trình phát triển đi lên, đang rất cần có sự nghiên cứu kĩ lưỡng, thấu đáo, từ đó đề xuất nhiệm vụ đổi mới thiết chế buôn, làng một cách phù hợp. Được như vậy sẽ góp phần làm cho từng buôn, làng mỗi gia đình nhận thức sâu sắc hơn chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, hăng hái chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, giáo dục, tích cực làm giàu cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội.

Lê Văn Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,217,411


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs