Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 27/07/2006
Công tác thực hiện chính sách dân tộc trên địa bàn huyện Ba Tơ, tỉnh Quảng Ngãi
Ba Tơ là một huyện miền núi phía Tây Nam của tỉnh Quảng Ngãi. Đây là vùng đất cư trú lâu đời của dân tộc H’re. Dân số có 48.741 người với 11.372 hộ; dân tộc H’re chiếm 87,24% và các dân tộc khác 12,76%. Tổng diện tích tự nhiên 113.254 ha. Toàn huyện có 18 xã và một thị trấn; 105 thôn, tổ dân phố; trong đó có 7 xã thuộc Chương trình 135 của Chính phủ. Với những đặc điểm về tự nhiên - xã hội, Ba Tơ là vùng đất có vị trí chiến lược quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng; được xem là cửa ngõ nối liền các tỉnh duyên hải miền Trung với các tỉnh Tây Nguyên.

Miền đất có tên Ba Tơ không hề xa lạ đối với người dân Việt Nam. Bởi cuộc khởi nghĩa Ba Tơ ngày 11/3/1945 và đội du kích Ba Tơ - lực lượng vũ trang đầu tiên của quân khu V đã đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công chói lọi, góp phần tạo nên mốc son vàng của Cách mạng Tháng Tám lịch sử. Nhân dân các dân tộc Ba Tơ đã kề vai sát cánh bên nhau, dũng cảm và kiên cường đấu tranh chống xâm lược, tạo nên một truyền thống gắn bó keo sơn từ lâu đời giữa các dân tộc anh em trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Đoàn kết gắn bó là truyền thống tốt đẹp tạo nên điều kiện thuận lợi để các dân tộc Ba Tơ tăng cường quan hệ mật thiết, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau trong đại gia đình các dân tộc, tạo thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - văn hoá giữa các dân tộc.

Trưởng thành qua hai cuộc chiến tranh gian khổ cùng với những bất lợi về mặt địa lí tự nhiên, khi đất nước hoà bình thống nhất người dân Ba Tơ bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới từ xuất phát điểm về kinh tế - xã hội thấp do đồng bào các dân tộc ở Ba Tơ sinh sống chủ yếu ở địa hình hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn; dân cư phân tán nên thật khó cho việc qui hoạch đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhân dân sống chủ yếu dựa vào nghề nông làm ruộng (bậc thang) và phát rừng làm nương rẫy, trình độ dân trí còn thấp. Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ chủ chốt ở xã còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn huyện. Không những thế, nhiều vùng, việc sản xuất còn phụ thuộc nặng nề vào thiên nhiên, phương thức sản xuất, tập quán canh tác còn lạc hậu, có nhiều nơi mang nặng tự cung tự cấp. Hệ quả tất yếu của những điều nêu trên là cuộc sống của đồng bào các dân tộc trên địa bàn Ba Tơ gặp nhiều khó khăn. Tình trạng nghèo đói là một hiện thực nhức nhối ở vùng đất anh hùng này trong một thời gian khá dài. Nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào, thực hiện tốt chính sách dân tộc ở Ba Tơ, đó là nhiệm vụ và là mục tiêu mà toàn đảng, toàn dân trên mảnh đất anh hùng đặt ra một cách bức thiết. Tất cả các nghị quyết, chính sách của huyện đều thể hiện rõ quyết tâm đó. Đặc biệt trong những năm gần đây, Đảng bộ và chính quyền Ba Tơ đã nỗ lực và có bước đột phá lớn trong công tác dân tộc, đưa cuộc sống của đồng bào dân tộc, miền núi đổi thay rõ rệt.

Đầu tiên, đó là việc ổn định cuộc sống của đồng bào. Địa phương đã quyết tâm thực hiện công tác giao đất, giao rừng cho người dân đủ đất đai canh tác, tránh tình trạng du canh du cư như trước đây. Từ năm 1996, Nghị quyết 15 của tỉnh Đảng bộ đã đưa ra mục tiêu cụ thể: “… Đến năm 2000, phải chấm dứt tình trạng du canh du cư, xoá đói, từng bước giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân…”.

Để mục tiêu đó trở thành hiện thực, chương trình định canh - định cư, Chương trình 135 đã được triển khai thực hiện khá tốt. Trong 5 năm qua, huyện đã xây dựng 79 công trình, trong đó giao thông (36), thuỷ lợi (21), nước sinh hoạt (10), trường học (12). Năm 2005, thực hiện Quyết định 134/2004/QĐ-TTg của Chính phủ về hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc là hộ nghèo, đã thực hiện xây dựng 772/916 nhà, 02 chương trình nước tự chảy, 80 giếng nước.

Công tác xoá đói giảm nghèo luôn được huyện chú trọng và quan tâm chỉ đạo một cách sát sao từ huyện đến cơ sở. Và kết quả cụ thể là tỷ lệ hộ nghèo năm 2001 là 38,87% đến năm 2005 giảm xuống còn 7,34% (chuẩn cũ). Lương thực có hạt bình quân đầu người năm 2001 là 309,68 kg, đến năm 2005 là 347 kg, lương thực nhóm cây có bột năm 2001 là 11.946,98 tấn, năm 2005 tăng lên là 23.757,60 tấn. Đàn bò năm 2001 là 3.630 con, đến năm 2005 là 6.767 con trong đó 43% là bò lai sind. Về công tác thuỷ nông năm 2001 có 464/4.500 ha, chiếm 20,8% diện tích được cung cấp đủ nước sản xuất năm 2005 tưới đạt 40,37% tổng diện tích (1.600/4.394 ha). Phong trào phủ xanh đất trống đồi trọc cũng được đẩy mạnh. Các lâm trường hàng năm trồng mới rừng phòng hộ từ 400 đến 450 ha và 1.200-1.500 ha rừng nguyên liệu, đưa độ che phủ của rừng từ 28% năm 2001 lên 45,5% năm 2005.

Xác định “điện, đường, trường, trạm” là những yếu tố có tính nền tảng nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương; điều đó lại hết sức bức thiết đối với đồng bào vùng sâu, vùng xa nơi mà mọi điều kiện sống đều vô cùng khó khăn, địa phương luôn chú trọng vào những tiêu chí trên, xem đó là đòn bẩy trong chính sách dân tộc. Ngoài mạng điện lưới quốc gia, Ba Tơ còn đầu tư xây dựng các nhà máy điện công suất vừa và nhỏ, đủ cung cấp nguồn điện năng tại chỗ phục vụ đồng bào. Ngoài ra huyện còn có những chính sách hỗ trợ nhiều mặt để người dân vùng sâu, vùng xa nhất cũng có điều kiện sử dụng điện thắp sáng và sản xuất. Năm 2001 có 5/19 xã, thị trấn có điện; đến năm 2005 có 19 xã, thị trấn có điện lưới quốc gia và 75-80% số hộ dùng điện. Bưu chính viễn thông cũng được đầu tư mạnh mẽ; đến hết năm 2004 đã có 100% xã, thị trấn có máy điện thoại, có bưu điện văn hoá xã. Từ 1,5 máy/100 dân đến năm 2000 lên 3,6 máy/100 dân và năm 2005 là 4 máy/100 dân (đạt 200% so với nghị quyết).

Là một huyện miền núi có địa hình hiểm trở, việc đi lại, mua bán trao đổi hàng hoá của đồng bào rất khó khăn. Những năm qua, huyện đã chỉ đạo đẩy mạnh công tác xây dựng và phát triển hệ thống giao thông từ trung tâm huyện đến các xã, thôn, bản nhằm phục vụ đi lại cho nhân dân. Năm 2001, có 12 xã có đường ô tô chạy đến trung tâm, năm 2005 có 19/19 xã đã có đường ô tô đến trung tâm và 80% có đường ô tô đến thôn, làng, đạt 114,35% so với chỉ tiêu nghị quyết đặt ra (70%). Đến giữa năm 2005 toàn huyện có 519 km đường ô tô, trong đó đường huyện có 112 km, đường xã là 333,5 km.

Vấn đề giáo dục được huyện Ba Tơ thực sự chú trọng. Huyện đã có một nghị quyết chuyên đề về giáo dục nêu các giải pháp dạy và học. Đặc biệt, huyện đã quyết tâm trong công tác đưa chữ đến từng thôn, làng. Một phân hiệu phổ thông trung học đã được mở ở vùng sâu, vùng xa với cơ sở vật chất khá tốt, cùng nhiều máy móc vi tính hiện đại để con em vùng sâu bước đầu được tiếp cận làm quen với khoa học công nghệ thông tin. Tháng 10/1997, Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận huyện đạt chuẩn xoá mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học. Từ năm 2000 đến nay đã có 268 phòng học các cấp được xây dựng mới với tổng số vốn trên 16 tỷ đồng. Đến năm 2005, toàn huyện có 32 đơn vị trường học. Chất lượng dạy và học ngày càng được nâng lên, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm. Đến nay, bình quân 3,6 người dân, có 1 người đi học. Tỷ lệ học sinh lên lớp đạt 99%. Trong 5 năm qua, đã cử tuyển 158 em đi học các trường chính qui trong nước, trong đó đại học 36, cao đẳng 40, trung học chuyên nghiệp 82 em.

Với chính sách hợp lý và sự quyết tâm cao của toàn thể đảng bộ, nhân dân trong huyện, chính sách dân tộc thời gian qua đã được địa phương thực hiện khá tốt, tạo động lực cho sự phát triển cơ bản trên mảnh đất này. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân trong 5 năm qua đạt 10,02%. Giá trị sản xuất từ 109,25 tỷ đồng năm 2001 lên 180,10 tỷ đồng năm 2005. Thu nhập bình quân đầu người 3.200.000đ năm 2001 lên 3.720.000đ năm 2005. Những kết quả trên đã góp phần thúc đẩy phát triển sản xuất giải quyết việc làm, tạo cơ sở hạ tầng kinh tế kỹ thuật, làm thay đổi diện mạo của nông thôn miền núi. Đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, tạo được niềm tin của đồng bào các dân tộc vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên trên thực tế, vẫn còn một số vấn đề cần được địa phương tiếp tục triển khai và thực hiện sâu sát hơn.

Thứ nhất, cần nâng cao nhận thức về vị trí của vấn đề dân tộc và chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước đối với cán bộ các cấp, ngành để quá trình thực hiện công tác này được toàn diện, thấu đáo, có sự đồng bộ với quyết tâm cao nhất. Cần có chủ trương đào tạo đội ngũ cán bộ cơ sở về năng lực tổ chức, quản lí, điều hành… bằng nhiều hình thức. Công tác tác đào tạo, bồi dưỡng, cán bộ công chức xã phải ngang tầm với nhiệm vụ. Hệ thống tổ chức làm công tác dân tộc ở cấp huyện cần bố trí thêm biên chế do xuất phát từ tính chất công việc và lấy hiệu quả làm thước đo cuối cùng.

Thứ hai, kiện toàn và phát huy sức mạnh của bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các hội đoàn thể cơ sở để thực sự sát dân, kịp thời nắm bắt, giải quyết tâm tư nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Các chính sách về kinh tế - xã hội cần được triển khai đầy đủ và có biện pháp cụ thể để phát huy tác dụng thiết thực đối với đồng bào các dân tộc, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, đem lại lòng tin cho nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ ba, cần có những biện pháp để nâng cao dân trí cho đồng bào các dân tộc. Phải có các biện pháp để giáo dục nhận thức đối với một bộ phận cán bộ đảng viên và nhân dân, những người còn tư tưởng ỷ lại trông chờ vào Nhà nước, chưa thực sự phát huy hết năng lực lao động của mình để nâng cao đời sống gia đình và cộng đồng.

Thứ tư, rất cần có biện pháp đẩy lùi các tệ nạn, những hủ tục của người dân địa phương. Nghiên cứu ở một số xã vùng cao, vùng xa thấy rằng đồng bào còn nặng tập tục lạc hậu. Vấn đề “nghi kỵ đồ đầu độc” đã tồn tại dai dẳng trong nhiều năm, hậu quả để lại của nó không nhỏ cả về mặt vật chất, tinh thần và cả tính mạng người dân nhưng đến nay vẫn chưa có dấu hiệu giảm bớt. Cần đẩy mạnh việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất, tiếp thu văn hoá tiên tiến và bảo tồn văn hoá truyền thống của các dân tộc. Đây là giải pháp tối ưu và lâu dài cho vấn đề nêu trên.

Ba Tơ là miền đất truyền thống anh hùng, là chiếc nôi của phong trào cách mạng và có thể xem là biểu tượng của tình đoàn kết các dân tộc, cùng kề vai sát cánh trong công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc; công tác thực hiện chính sách xã hội nói chung và chính sách đối với gia đình có công với cách mạng cần được chú trọng để thực hiện tốt, nhằm xây dựng niềm tin vững chắc, mối đoàn kết keo sơn giữa đảng và dân, miền xuôi và miền ngược, tạo nên sự đồng thuận nhất trí cao để đưa miền đất anh hùng từng bước tiến lên.

ThS. Đoàn Triệu Long
Học viện Chính trị khu vực III

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,284,944


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs