Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp ở miền núi số 71-NQ/TW ngày 23/2/1963
 04/07/2006

Nghị quyết của Hội nghị lần thứ năm của Ban chấp hành chung ương Đảng đã đề ra đường lối, phương hướng, nhiệm vụ và các chủ trương, chính sách, biện pháp phát triển nông nghiệp trong kế hoặc 5 năm lần thứ nhất 1962-1965. Công tác phát triển nông nghiệp ở miền núi về căn bản cũng phải chấp hành theo đúng tinh thần nghị quyết đó. Nhưng nông nghiệp miền núi có những đặc điểm riêng, vì vậy cần có những quy định thích hợp.

 

I. TÌNH HÌNH HỢP TÁC HÓA NÔNG NGHIỆP VÀ SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP Ở MIỀN NÚI

Trong những năm vừa qua, chúng ta đã tiến hành cuộc vận động hóa hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển sản xuất, kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi và đạt được những thành tích to lớn.

Tình hình hợp tác hóa

Hiện nay, hợp tác sản xuất nông nghiệp miền núi đã bao gồm trên 76% nông hộ và trên 67% diện tích ruộng đất. Hợp tác xã bậc cao đã bao gồm 25% nông hộ. Quy mô bình quân chung của một hợp tác xã là 31 hộ. Việc tổ chức nông dân lại ở vùng thấp căn bản là xong.

Cũng như tình hình chung, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở miền núi đã phát triển nhanh, lành mạnh và nói chung là tốt. Tuy quy mô nhỏ, trình độ quản lý thấp, nhưng hợp tác xã sản xuất nông nghiệp miền núi đã bước đầu phát huy tác dụng trong việc mở rộng diện tích trồng trọt, nhất là trong việc tăng vụ lúa chiêm và lúa nam ninh; đã có những tiến bộ khá về cải tiến kỹ thuật và về mặt sử dụng thêm nhiều sức lao động vào sản xuất; ngoài sản xuất lương thực, một số hợp tác xã đã phát triển kinh doanh cây công nghiệp, nuôi châu bò sinh sản, nuôi lợn, nuôi vịt đàn, khai thác lâm sản,vv... Hiện nay, đã có độ I,3 số hợp tác xã đã lập được kế hoạch cả năm và ngót I,5 số hợp tác xã đã thực hiện được 3 khoán. Đổng thời, vì có những điều kiện thiên nhiên thuận lợi để phát triển sản xuất, cho nên số ngày công, giá trị ngày công và mức thu nhập thực tế của hợp tác xã miền núi cũng cao hơn so với ở miền xuôi.

Trong cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ, công tác xây dựng và phát triển cơ sở Đảng cũng đã có những thành tích tốt.

Các nông trường quốc doanh và lâm trường quốc doanh cũng được xây dựng và phát triển ở nhiều vùng.

Thắng lợi của cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp kết hợp hoàn thành cải cách dân chủ ở miền núi là một bộ phận nằm trong những thắng lợi chung của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền nông nghiệp miền Bắc nước ta. Nó đã tạo cho miền núi những điều kiện mới để phát triển sản xuất, cải thiện đời sống của nhân dân các dân tộc, đồng thời tạo ra những cơ sở mới để tăng cường đoàn kết dân tộc, tiến lên thực hiện sự bình đẳng dân tộc cao hơn, cả về mặt chính trị và kinh tế. Đó là một sự chuyển biến rất sâu sắc trong tình hình nông thôn miền núi. Nguyên nhân của những thắng lợi trên đây là:

- Đường lối, phương châm, chính sách hợp tác hóa nông nghiệp của Đảng ta đề ra cho miền núi căn bản là đúng; chủ trương giải quyết các vấn đề tồn tại về cải cách dân chủ kết hợp trong công cuộc vận động hợp tác hóa nông nghiệp là rất thích hợp và sáng tạo.

- Nông dân lao động miền núi tuyết đối tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng ta và của Hồ Chủ Tịch, đã tích cực chấp hành các chủ trương, chính sách của Đảng và hăng hái đi vào con đường làm ăn tập thể.

- Truyền thống đoàn kết tương trợ sẵn có của đồng bào các dân tộc, ảnh hưởng của phong trào hợp tác hoá nông nghiệp ở miền xuôi và kết quả hoàn thành cải cách dân chủ cũng đều có tác dụng thúc đẩy phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở miền núi.

Tuy nhiên, phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở miền núi chưa thật vững và số mặt còn rất yếu. Những nhược điểm và khó khăn của phong trào hợp tác nông nghiệp ở miền núi hiện nay là: trình độ công tác tổ chức quản lý hợp tác xã còn thấp và đơn giản, các mặt công tác ở cơ sở còn rất nhiều lúng túng và khó khăn, những hiện tượng thiếu dân chủ đang còn nhiều; chủ nghĩa bình quân đang còn nặng; cơ sở vật chất và kỹ thuật của miền núi có ưu thế hơn so với ở miền xuôi về diện tích ruộng đất, về nguồn nước, nguồn phân bón và sức kéo, nhưng công cụ sản xuất thì rất thô sơ, kỹ thuật trồng trọt và chăn nuôi nói chung thấp; đại bộ phận hợp tác xã chỉ mới kinh doanh lương thực, trong đó phần lớn mới kinh doanh lúa, kinh tế tập thể nói chung còn yếu, kinh tế phụ gia đình còn chiếm đại bộ phận trong tổng thu nhập của xã viên; một số chính sách nghiên cứu chưa cụ thể và chấp hành chưa tốt cũng đã gây trở ngại cho việc tiếp tục củng cố và phát triển phong trào hợp tác hóa nông nghiệp ở nhiều vùng.

Nguyên nhân chính của những khuyết điểm và nhược điểm ở trong phong trào hợp tác hóa miền núi cũng giống như những nguyên nhân của chính của phong trào hợp tác chung cả miền Bắc mà Hội nghị lần thứ năm của trương ương đã phân tích. Ngoài ra ở miền núi còn có nguyên nhân khách quan do trình độ phát triển kinh tế còn thấp của miền núi tạo nên và còn do những khuyết điểm trong công tác của chúng ta là:

- Ở nhiều nơi, công tác chuẩn bị cơ sở, chuẩn bị điều kiện xây dựng hợp tác xã làm chưa tốt; công tác giáo dục tư tưởng làm chưa kỹ; việc nghiên cứu hình thức và qui mô tổ chức nhiều mặt chưa thật sát.

- Đã ham đưa nhiều hợp tác xã lên quy mô, tổ chức hàng loạt hợp tác xã bậc cao không đủ điều kiện; tiến hành công hữu hóa trâu bò tràn lan, định thấp giá công hữu hóa trâu bò; ở vùng cao thì hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đã phát triển quá nhanh và thiếu nhiều điều kiện.

- Việc giúp đỡ cho hợp tác xã phát triển sản xuất, công tác đào tạo cán bộ quản lý hợp tác xã làm yếu và chậm, v.v...

Tóm lại: trong khi tiến hành vận động hợp tác hóa nông nghiệp ở miền núi, chúng ta chưa nhìn thấy rõ những đặc điểm phân tán và trình độ phát triển không đều của các vùng. Chúng ta đã tích cực lợi dụng những thuận lợi của miền núi để phát triển mạnh hợp tác xã sản xuất nông nghiệp ở những nơi có điều kiện là đúng, nhưng lại đã không thấy hết những khó khăn của miền núi để giải quyết các vấn đề đặt ra một cách thận trọng và vững chắc; nhiều mặt công tác còn rập khuôn gần giống như miền xuôi, vùng cao gần giống như vùng thấp v.v...

Tình hình sản xuất

Thành tích nổi bật nhất của sản xuất nông nghiệp ở miền núi vừa qua là đã tăng sản xuất lương thực lên khá nhanh và nhờ đó đã căn bản giải quyết được tình trạng thiếu lương thực thường xuyên ở miền núi do chế độ cũ để lại, đảm bảo cung cấp được lương thực cho nhân dân ăn no hơn và có dự trữ một phần. Bình quân lương thực đầu người ở miền núi trong năm 1961 đã tăng gấp rưỡi so với năm 1957, mặc dù mức dân số tăng bình quân hàng năm là 3,2%. Nghề rừng, thì mặt khai thác rừng đã phát triển một bước khá, đã cung cấp được hàng triệu mét khối gỗ và rất nhiều lâm sản khác. Cây công nghiệp và một số mặt của chăn nuôi cũng ít nhiều có phát triển, tuy chưa đều và chưa mạnh. Cùng với nông nghiệp, công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp phục vụ nông nghiệp cũng đã bước đầu được chú ý.

Nhờ sản xuất tăng, nhất là bước đầu đã giải quyết được tương đối tốt vấn đề lương thực, cộng với việc đẩy mạnh các hoạt động văn hóa, giáo dục, y tế, đời sống của nông dân và nhân dân lao động ở miền núi đã được cải thiện khá, các mặt ăn, mặc, học, sức khỏe đều tăng lên rõ rệt.

Những kết quả về phát triển sản xuất, cải thiện đời sống trên đây có một ý nghĩa chính trị và kinh tế rất quan trọng. Đó là kết quả của đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng ta đối với việc phát triển sản xuất nông nghiệp ở miền núi, là kết quả của tinh thần cần cù lao động và ý thức tự lực cánh sinh của cán bộ và nhân dân miền núi trong việc chấp hành các chủ trương, chính sách ấy. Những kết quả đó đã góp phần to lớn củng cố lòng tin tưởng của nhân dân lao động các dân tộc miền núi đối với sự lãnh đạo của Đảng ta và đối với chính quyền dân chủ nhân dân, có tác dụng to lớn bước đầu phát huy khả năng của nông nghiệp miền núi để góp phần thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế và văn hóa nói chung của miền Bắc. Tuy nhiên, hiện nay sản xuất nông nghiệp miền núi chỉ mới phát triển ở bước đầu, rất thấp, những khả năng tiềm tàng phong phú về nhiều mặt chưa được khai thác đúng mức để đáp ứng những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống và sản xuất của miền núi và nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

Những mặt yếu của sản xuất nông nghiệp miền núi hiện nay là: hoa màu phát triển còn ít; cây công nghiệp tăng chậm; chăn nuôi gần đây đứng lại và có mặt bị sút nhiều; trong nghề rừng thì các mặt tu bổ, cải tạo, bảo vệ và trồng đều còn kém, tình trạng phá rừng bừa bãi đã và đang gây ra nhiều tác hại. Công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp nói chung còn yếu và chưa đáp ứng được nhu cầu cung cấp tư liệu sản xuất cho nông nghiệp và cung cấp hàng tiêu dùng thích hợp cho miền núi. Thương nghiệp và giao thông phát triển còn chậm và yếu. Đời sống của nhân lao động ở miền núi nói chung được cải thiện, nhưng chưa đều, ở một số vùng mức sản xuất và thu nhập còn thấp, lương thực còn thiếu, đời sống còn nghèo, đặc biệt là một số nơi thuộc vùng giữa và vùng cao, do sản xuất có nhiều khó khăn, cho nên có nơi đồng bào còn thường xuyên bị thiếu thốn.

Về mặt kỹ thuật, chúng ta cũng đã có tiến bộ khá về thủy lợi, phân, cấy dày, cải tiến nông cụ nhưng nhìn chung công tác kỹ thuật chuyển biến còn chậm. Việc chỉ đạo kỹ thuật còn gò bó, thiếu linh hoạt và còn xem nhẹ tổng kết những kinh nghiệm sẵn có của địa phương; việc giữ đất, chống xói mòn, giữ độ ẩm là vấn đề kỹ thuật nổi bật của miền núi thì đặt chưa đúng và làm còn kém.

Trong việc lãnh đạo sản xuất nông nghiệp ở miền núi, chúng ta nắm chắc sản xuất lương thực là đúng và đã bước đầy chú ý đến việc phát triển một số ngành, nhưng khuyết điểm là chưa toàn diện. Việc nghiên cứu một số chính sách và giúp đỡ cho miền núi còn thiếu cụ thể; việc phát huy tác dụng giúp đỡ lẫn nhau giữa miền xuôi và miền núi đặt chưa rõ; việc phối hợp các ngành để giải quyết những vấn đề có liên quan đến việc thúc đẩy sản xuất còn kém và nhiều mặt công tác còn tách rời nhau... Nói chung là chúng ta chưa thấy rõ nông nghiệp miền núi có đầy đủ tính chất tiêu biểu nhất của một nền sản xuất toàn diện, chưa thấy hết những thuận lợi của miền núi để phát huy, cũng như chưa thấy hết những khó khăn cần phải tập trung nhiều lực lượng để khắc phục; sự chỉ đạo còn có phần chủ quan, rập khuôn và máy móc, chưa sát với đặc điểm của tình hình miền núi và chưa sát với đặc điểm của từng vùng.

Nhìn chung, tuy sản xuất nông nghiệp ở miền núi đã từ cá thể đi vào tập thể, nhưng tính chất sản xuất độc canh, tự cấp còn nặng, sản phẩm hàng hóa còn rất ít. Hợp tác hóa nông nghiệp cũng mới căn bản hoàn thành về mặt tổ chức, trình độ đang còn thấp. Chúng ta có rất nhiều thuận lợi và có những cơ sở bước đầu vững chắc, nhưng đưa nền kinh tế nông nghiệp từ trình độ thấp của miền núi hiện nay đi vào có tổ chức, có kế hoạch và tiến lên quy mô ngày càng lớn là một vấn đề không phải đơn giản. Chúng ta phải ra sức phát huy các thuận lợi, khắc phục các nhược điểm và khó khăn, xuất phát từ những tình hình thực tế trên đây để đề ra những phương hướng, chủ trương, chính sách và biện pháp thích hợp.

 

II. PHƯƠNG HƯỚNG CHUNG PHÁT TRIỂN NÔNG NGHIỆP Ở MIỀN NÚI

Miền núi miền Bắc nước ta chiếm trên 2/3 diện tích và trên 1/5 dân số chung của miền Bắc, có một vị trí hết sức quan trọng về chính trị, kinh tế và quốc phòng. Về nguồn lợi thiên nhiên, chẳng những miền núi có nhiều khả năng để phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, mà còn có nhiều khả năng tiềm tàng để phát triển những ngành công nghiệp lớn và trọng yếu, làm cơ sở để cải thiện đời sống của nhân dân các dân tộc và thúc đẩy công cuộc công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà. Vì vậy, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã nêu bật tầm quan trọng của sự nghiệp xây dựng kinh tế miền núi đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đã đề ra những phương hướng lớn. Trong nông nghiệp, Nghị quyết của Hội nghị trung ương lần thứ năm, cũng đã căn cứ vào tinh thần nghị quyết của Đại hội, đề ra phương hướng xây dựng dần dần miền núi thành những vùng nông nghiệp mới có tính chất toàn diện, biến miền núi từ một nền kinh tế vốn là tự cấp dần dần trở thành một nền kinh tế có nhiều sản phẩm hàng hóa, không ngừng cải thiện đời sống của nhân dân và phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà. Đó là những đường lối căn bản để phát triển nông nghiệp ở miền núi.

Để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ở miền núi, chúng ta cần phải chú ý đến những đặc điểm sau đây:

1. Miền núi còn nhiều đất đai chưa khai phá, có khả năng để mở rộng thêm diện tích (khoảng 1 triệu héc-ta); có nguồn nước nhiều, nguồn phân nhiều, sức kéo đầy đủ để đẩy mạnh tăng năng suất; có nhiều loại đất đai thích hợp để phát triển sản xuất toàn diện cả lương thực, chăn nuôi, nghề rừng, cây công nghiệp, nhất là có nhiều khả năng để phát triển mạnh chăn nuôi, nghề rừng và cây công nghiệp hơn hẳn miền xuôi, và do đó mà khả năng cải thiện từng bước đời sống của nhân dân, tăng cường lực lượng của Hợp tác xã và bảo đảm nhu cầu của Nhà nước. Bên cạnh những thuận lợi đó, nông nghiệp miền núi miền Bắc nước ta cũng có những khó khăn: người thưa, sức lao động thiếu, trình độ sản xuất thấp, nhu cầu sinh hoạt còn đơn giản; đất hoang còn nhưng hầu hết là đất dốc, đất nhiều nơi lại bị làm đi làm lại nhiều lần; việc canh tác trên đất dốc, việc bảo vệ rừng, bảo vệ đất, chống xói mòn cũng rất phức tạp, v.v... Nói tóm lại, miền núi có khả năng tiếp thu thêm hàng triệu người và có khả năng để làm ra nhiều của cải hơn so với miền xuôi, nhưng khó khăn cũng không phải là ít. Cho nên chúng ta có điều kiện phát triển sản xuất toàn diện, khai thác hợp lý những khả năng tiềm tàng của miền núi, nhưng phải chú ý giúp đỡ khắc phục các khó khăn, tạo ra cho nhân dân những nhu cầu mới, đồng thời cũng phải tiến bước một cách rất vững chắc.

2. Tính chất vùng của miền núi rất phức tạp, không những có vùng thấp, vùng giữa, vùng cao, mà ngay trong mỗi vùng đó tình hình khí hậu, đất đai, tập quán và kỹ thuật canh tác, thành phần dân tộc cũng khác nhau rất nhiều. Trong khi lãnh đạo nông nghiệp ở miền núi, cần phải chú ý đến sự khác nhau của từng vùng đó và phải đặc biệt chú ý đến việc chấp hành đúng chính sách đoàn kết dân tộc.

3. Hợp tác hóa nông nghiệp ở miền núi đã căn bản hoàn thành ở vùng thấp, hợp tác xã của đồng bào miền xuôi lên khai hoang dần dần được xây dựng, các nông trường quốc doanh, lâm trường quốc doanh phát triển đều là những cơ sở tốt để phát triển nông nghiệp. Nhưng chúng ta cũng còn có nhiều khó khăn do đặc điểm phân tán của miền núi gây nên cũng như những khó khăn về các mặt tăng cường cơ sở vật chất, kỹ thuật của hợp tác xã và cải tiến công tác quản lý hợp xã; thành phần kinh tế cá thể còn một bộ phận không phải nhỏ, nhất là ở vùng cao, vùng còn du cư, du canh và những nơi dân cư lẻ tẻ ở vùng thấp.

4. Vấn đề lưu thông, chế biến, cung cấp, tiêu thụ có tác dụng rất lớn đối với việc phát triển nông nghiệp ở miền núi thì đang còn yếu và có những mặt còn phải giải quyết lâu dài.

Căn cứ vào những đặc điểm trên đây, phương hướng phát triển nông nghiệp đề ra chẳng những phải phù hợp với đặc điểm chung của miền núi và phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế quốc dân, mà còn phải phù hợp với khả năng của từng vùng và hợp với yêu cầu của từng dân tộc; quy mô tổ chức và quy mô sản xuất chủ yếu phải là nhỏ và vừa; phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa tập trung và phân tán; giữa việc giải quyết những nhu cầu trước mắt với việc quy hoạch phát triển lâu dài; giữa việc phát huy lực lượng của địa phương với việc tăng cường thêm lực lượng và phương tiện cho miền núi; phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa nông nghiệp và lâm nghiệp, giữa nông lâm nghiệp với công nghiệp địa phương và thủ công nghiệp, giữa sản xuất với chế biến và lưu thông;đồng thời phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế tập thể với kinh tế quốc doanh, giữa kinh tế tập thể với kinh tế phụ gia đình và bộ phận kinh tế cá thể còn tồn tại. Đi đôi với sản xuất cần phải đề cao ý thức tiết kiệm và ý thức bảo vệ tài nguyên chung.

Căn cứ theo tinh thần Nghị quyết của Hội nghị trung ương lần thứ năm và tình hình, đặc điểm đã phân tích ở trên, phương hướng phát triển nông nghiệp ở miền núi hiện nay là:

Dựa vào hợp tác xã, nông trường, lâm trường quốc doanh, sử dụng tốt lực lượng lao động ở miền núi, kết hợp với việc tiếp thu và sử dụng tốt lực lượng lao động ở miền xuôi lên, ra sức đẩy mạnh khai hoang, tăng vụ và tích cực tăng năng suất trên toàn bộ diện tích.

Phát triển nông nghiệp toàn diện, sát với khả năng của từng vùng; chú trọng tăng sản lượng lúa và ngô, đặc biệt đẩy mạnh việc trồng các loại hoa màu lương thực, đồng thời hết sức lợi dụng ưu thế của miền núi để phát triển mạnh chăn nuôi, nghề rừng và cây công nghiệp; kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp địa phương, thủ công nghiệp và nông nghiệp, giữa sản xuất với chế biến và lưu thông, nhằm nâng cao đời sống của nhân dân các dân tộc miền núi và phục vụ tốt cho sự nghiệp công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa nước nhà; phá bỏ dần chế độ sản xuất độc canh, tiến tới chế độ đa canh, biến miền núi từ chỗ kinh tế tự cấp, tự túc, trở thành một nền kinh tế nông nghiệp có nhiều sản phẩm hàng hóa, nhất là sức kéo, thịt, sữa, sản phẩm nghề rừng và sản phẩm cây công nghiệp.

Phấn đấu trong vòng từ 10 đến 15 năm, làm cho kinh tế miền núi trở nên tương đối phồn vinh, tức là dân cư đông đúc hơn, nhân dân được ăn no, mặc ấm, khỏe mạnh hơn, trình độ văn hóa cao hơn, giao thông liên lạc thuận tiện hơn và có các thị trấn mới xuất hiện; làm cho miền núi trở thành một vị trí khá giả về kinh tế, vững chắc về chính trị, mạnh mẽ về quốc phòng.

Trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất 1961-1965, dựa vào phương hướng trên đây, chúng ta phải tranh thủ đạt được một sự chuyển biến rõ rệt trong nông nghiệp ở miền núi theo vị trí và tốc độ của các ngành sản xuất như sau: Lương thực hết sức coi trọng để nói chung có thể căn bản đủ cung cấp, và cây công nghiệp, chăn nuôi, nghề rừng đều phát triển. Trên cơ sở đó khắc phục một bước tình trạng sản xuất độc canh, phát triển thêm sản phẩm hàng hóa, cung cấp được một phần sản phẩm cho nhu cầu chung và cải thiện đời sống của nhân dân miền núi hơn nữa, đưa mức sống của nông dân xã viên lên ngang mức sống của những nông dân khá giả hiện nay ở miền núi. Trong khi xây dựng và thực hiện những phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, cần phải dự kiến phương hướng và kế hoạch phát triển lâu dài, để có sự chuẩn bị trước về mọi mặt và kết hợp tiến hành xây dựng cơ sở ngay từ trong kế hoạch 5 năm này, tránh được những sự lãng phí và lủng củng xảy ra do chỉ chú ý đến tình hình và những nhu cầu trước mắt, đồng thời cũng tránh viển vông.

 

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,305,579


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs