Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 22/06/2006
Phong Thổ: Huyện biên cương Tổ quốc trên bước đường phát triển

Pong Thổ là huyện vùng cao biên giới thuộc tỉnh Lai Châu. Toàn huyện có 15 xã và thị trấn, với 147 bản, 8.739 hộ, gồm 8 dân tộc và 5 vạn dân. Theo Quyết định 135 của Thủ tướng Chính phủ Phong Thổ có 14 xã đặc biệt khó khăn (12 xã biên giới). Đây là địa bàn xung yếu chiến lược ở vùng đồng bào dân tộc của tỉnh Lai Châu nói riêng và cả vùng Tây Bắc nói chung.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào vùng đặc biệt khó khăn, những năm qua, bằng các chương trình dự án: 135, 138, 143, 186, 190, 120, 159, 134 cùng nhiều chương trình khác, nhất là sau khi Bộ Chính trị thành lập Ban chỉ đạo Tây Bắc đã quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và hỗ trợ đời sống cho nhân dân các dân tộc trên địa bàn huyện được cụ thể hơn, rõ việc hơn và mang lại hiệu quả khá toàn diện. Cùng với sự hỗ trợ của Đảng và Nhà nước, trong lãnh đạo Ban thường vụ Huyện uỷ đã đề ra 5 nhiệm vụ trọng tâm để tập trung ưu tiên trong chỉ đạo đó là: Phát huy truyền thống đoàn kết các dân tộc, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, giữ vững ổn định chính trị; Tập trung xoá đói giảm nghèo; Tăng cường giáo dục - đào tạo; Khai thác có hiệu quả các tiềm năng thế mạnh; Củng cố hệ thống chính trị và thực hiện tốt quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.

Nhờ đó, những năm qua, tuy nơi này nơi khác có những diễn biến phức tạp, nhưng trên địa bàn huyện tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội có nhiều chuyển biến tốt, đời sống vật chất, văn hoá tinh thần của nhân dân các dân tộc trong huyện từng bước được nâng lên. Về sản xuất nông - lâm nghiệp, huyện đã tập trung khảo sát lập nhiều dự án, xây dựng các công trình thuỷ lợi để động viên, khuyến khích nhân dân khai hoang ruộng nước và nương cố định, đưa giống mới vào sản xuất do đó đã tăng diện tích lúa hai vụ từ 240 ha lên 356 ha; sản lượng lương thực cây có hạt đạt 15.379 tấn, tăng 26% so với năm 2002. Một kết quả rõ nét nhất đó là việc chỉ đạo nhân dân 8 xã vùng cao biên giới trồng cây thảo quả, cây có giá trị kinh tế cao (1 kg thảo quả mua được 50 kg thóc; trồng cây thảo quả giữ được rừng già) có thị trường Trung Quốc rộng lớn tiêu thụ… Về lâm nghiệp đã nâng độ che phủ rừng từ 27% năm 2002 lên 33% năm 2005. Kinh tế của huyện tăng trưởng với tốc độ khá, GDP tăng 7,38%, thu nhập bình quân đầu người tăng từ 2,73 triệu đồng năm 2002 lên 4 triệu đồng năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 6,7%.

Cùng với sự đầu tư phát triển kinh tế, công tác văn hoá xã hội cũng được quan tâm đúng mức, giáo dục, đào tạo có bước phát triển, giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học và xoá mù chữ. Số học sinh huy động ra lớp tăng 12%, toàn huyện có 39 trường, 519 lớp với 10.455 học sinh tăng 20 trường, 103 lớp và 3000 học sinh so với năm 2002, trong đó thành lập mới trường Phổ thông trung học và trường Dân tộc nội trú với qui mô 250 học sinh, đến nay đã có 3/16 xã hoàn thành phổ cập trung học cơ sở; 70% số phòng học được kiên cố hoá. Trong lĩnh vực đào tạo, đã có những chuyển biến tích cực, từ chỗ có 70% cán bộ công chức xã trình độ văn hoá cấp I (chủ yếu là lớp 1 và lớp 2), hầu hết chưa có trình độ chuyên môn, đến nay đã có 56,7% và 18,6% cán bộ công chức xã có trình độ văn hoá từ cấp II trở lên và trung cấp chuyên môn thuộc chuyên ngành: Nông nghiệp, địa chính, tư pháp, kế toán… Năng lực quản lí điều hành của cán bộ chủ chốt xã từng bước được nâng lên; đảm đương và quản lí được một số mặt công tác tại cơ sở. Về y tế, đội ngũ cán bộ y tế từng bước được kiện toàn, thực hiện tốt công tác y tế dự phòng và các chương trình y tế quốc gia. Tổ chức khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo và trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm. Công tác dân số đã tập trung nâng cao chất lượng các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hoá gia đình tới hộ gia đình ở từng thôn bản. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” được đông đảo nhân dân hưởng ứng; có 40/147 bản văn hoá cấp tỉnh; 5.940 hộ/8.786 hộ gia đình văn hoá cấp huyện. Các hoạt động chiếu phim vùng cao, đưa thông tin về cơ sở, hội diễn văn nghệ được đẩy mạnh. Truyền thanh, truyền hình đã thực hiện tốt thời lượng phát sóng; phủ sóng truyền hình đạt 65%; truyền thanh 70%. Bên cạnh việc tập trung lãnh đạo chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội, những năm qua Phong Thổ đã đạt được một số kết quả trong xây dựng tổ chức cơ sở đảng về mặt tổ chức và trong công tác đảng đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ do Ban Bí thư qui định, phù hợp với đặc điểm, tình hình thực tế ở từng xã, từng cơ quan, đơn vị đảm bảo đủ sức lãnh đạo nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Tính đến 31/12/2005, toàn huyện có 37 tổ chức cơ sở Đảng (tăng 15 cơ sở so với năm 2002), trong đó có 15 Đảng bộ cơ sở (tăng 6) và 87 chi bộ trực thuộc Đảng bộ cơ sở (tăng 25).
Trong chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng, các cấp uỷ đã chú trọng tổ chức kiểm tra, chấn chỉnh việc thực hiện nguyên tắc sinh hoạt của chi bộ; thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng, kết hợp với thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị. Chế độ lãnh đạo tập thể được tăng cường, vai trò của chính quyền, đoàn thể ngày càng được phát huy. Nhờ đó, chất lượng lãnh đạo của tổ chức cơ sở Đảng từng bước được nâng lên, số tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh ngày một tăng. Qua phân tích chất lượng tổ chức cơ sở Đảng tỉ lệ trong sạch, vững mạnh đạt 64,9% (tăng 7,8% so với đầu nhiệm kỳ); yếu kém 2,7% (đầu nhiệm kỳ là 8,1%).

Đội ngũ đảng viên không ngừng được tăng cường cả về số lượng và chất lượng, hàng năm, số đảng viên đủ tư cách hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đạt trên 70%, trong đó số phát huy tác dụng là trên 55%, không có đảng viên vi phạm tư cách. Bên cạnh việc quan tâm nâng cao đội ngũ đảng viên mới, chủ động xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn và phân công đảng viên theo dõi, giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào đảng. Kết quả, tổng số đảng viên trong toàn đảng bộ hiện nay là 1.250 đồng chí (đầu nhiệm kỳ là 641), tăng 609 đảng viên. Trong đó đảng viên là người dân tộc chiếm 87,5%. Chất lượng đảng viên được nâng lên, đảng viên có trình độ văn hoá phổ thông cơ sở và phổ thông trung học chiếm 38,7%, đảng viên có trình độ cao đẳng, đại học tăng 5,8%, trình độ trung cấp lý luận trở lên tăng 17%. Năm 2002 có 25/147 bản, 10/18 trường chưa có đảng viên, đến nay 100% bản, 14/18 trường học có đảng viên.

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, huyện Phong Thổ hiện còn rất nhiều khó khăn, thiếu thốn do địa bàn rộng 819,1 km2, địa hình chia cắt, gần 70% diện tích có độ dốc lớn trên 25o, không có cánh đồng lớn. Hàng năm mưa đá, gió lốc xảy ra trên diện rộng gây thiệt hại lớn cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Qui mô sản xuất nhỏ, nặng về tự cấp tự túc, sản xuất hàng hoá nhỏ bé phân tán, manh mún, kém hiệu quả, kinh tế chuyển dịch chậm, thiếu vững chắc. Tỷ lệ hộ đói nghèo 67%, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán còn lạc hậu. Nguồn nhân lực thiếu về số lượng, yếu về chất lượng, đặc biệt là đội ngũ cán bộ xã, bản. Kết cấu hạ tầng thấp kém, nghèo nàn và lạc hậu; nhất là về giao thông, trạm xá xã; trường học; thông tin liên lạc… Những khó khăn trên đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh của huyện.
Để từng bước giúp Phong Thổ vượt qua khó khăn, ngoài nỗ lực phấn đấu của đảng bộ, chính quyền, các cấp các ngành và nhân dân các dân tộc trong huyện rất cần có sự đầu tư hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước bằng cơ chế, chính sách thật cụ thể với lộ trình từ 10 đến 15 năm đối với các lĩnh vực sau:

- Về giáo dục - đào tạo: Cần có chính sách cụ thể, phù hợp với đặc thù riêng có của từng vùng; đối với các xã đặc biệt khó khăn vùng cao biên giới cần có tại mỗi xã một trường mẫu giáo và trường tiểu học mô hình như trường dân tộc nội trú huyện; có như vậy mới có học sinh ra lớp và từng bước nâng cao trình độ và mặt bằng dân trí chung. Tăng nguồn kinh phí đào tạo cán bộ xã nghèo, khuyến nông, khuyến lâm. Đối với cử tuyển cần phân bổ những ngành nghề phù hợp với điều kiện để sau đào tạo sử dụng được ở miền núi và cần mở rộng đối tượng hơn.

- Về nghề rừng: Nâng mức kinh phí bảo vệ rừng từ 50.000đ/ha/năm như hiện nay lên 200.000 đ/ha/năm. Kinh phí khoanh nuôi tái sinh từ 80.000 đ/ha/năm lên 300/000 đ/ha/năm. Vì phát triển nghề rừng là thế mạnh của các xã miền núi và có như vậy mới đảm bảo đủ điều kiện cho đồng bào các dân tộc sống được bằng nghề rừng, gắn bó với rừng. Đồng thời khẩn trương rút kinh nghiệm điều chỉnh lại cơ chế thực hiện Chương trình 661, như hiện tại là không có hiệu quả.

- Về xây dựng: Đầu tư dứt điểm, đồng bộ các hạng mục công trình có tính quyết định, đột phá cho sự phát triển như: Giao thông liên xã, liên bản; xây nhà ở giáo viên, cán bộ y tế xã; trạm xá xã; đường tuần tra biên giới, chợ đường biên; điện thoại, điện thắp sáng, phủ sóng các vùng lõm… tạo điều kiện để đồng bào yên tâm ổn định cuộc sống phát triển kinh tế - xã hội.

- Về qui hoạch: Việc qui hoạch bố trí dân cư như hiện nay là chưa đúng tầm cả về mức đầu tư, cả về nhận thức do đó Nhà nước cần đầu tư kinh phí thoả đáng và các điều kiện cần thiết, cho việc khảo sát qui hoạch, để bố trí sắp xếp dân cư vùng đồng bào dân tộc. Chúng tôi cho đây là một trong các giải pháp rất quan trọng tạo điều kiện ổn định dân cư một cách bền vững, lâu dài để định hướng phát triển toàn diện.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Nội vụ sớm ban hành chính sách di dân thống nhất và cụ thể hoá hơn, nhằm thực hiện đầy đủ Quyết định 120/QĐ-TTg ngày 11/6/2003 của Thủ tướng Chính phủ.

Việc ban hành tiêu chuẩn cán bộ công chức xã theo Nghị định 114, “áp” vào các chức danh theo Nghị định 121 là chưa phù hợp, thiếu tính thực tế nên có sự bất cập đối với hầu hết các xã vùng sâu, vùng xa biên giới; bởi đội ngũ cán bộ xã trình độ văn hoá, chuyên môn nghiệp vụ còn thấp.

Về tiêu chuẩn để xem xét kết nạp đảng viên, theo chúng tôi ngoài tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị; về văn hoá chỉ cần đọc thông viết thạo là đủ. Có như vậy mới tạo điều kiện thực hiện mục tiêu, 100% xoá được bản trắng đảng viên, bản có chi bộ.

                                                                                              Vũ Hồng Khanh
                                                                                    Bí thư Huyện ủy Phong Thổ

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,285,175


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs