Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/05/2006
Thổ cẩm làng Công Dồn


Bà Nay Yem phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắc Lắc vượt qua khó khăn nuôi 7 con ăn học trưởng thành (1 thạc sỹ, 5 đại học, 1 làm cán bộ)

Cách bến Giằng (Trung tâm hành chính huyện Nam Giang) khoảng 70 km và cách trung tâm cụm xã ChaVal khoảng 20 km về hướng Tây Bắc. Từ lâu, người ta biết đến thôn Công Dồn xã Zuôih huyện Nam Giang tỉnh Quảng Nam có một làng thổ cẩm truyền thống của người Cơ Tu.

Làng Công Dồn xã Zuôih, là một trong những làng thuộc vùng cao của huyện Nam Giang, có đến 98% là đồng bào dân tộc Cơ Tu sinh sống gồm 64 hộ, 249 nhân khẩu chiếm 18% dân số toàn xã Zuôih.

Từ trên cao nhìn xuống, thôn Công Dồn tựa như lòng chảo, được bao bọc bởi bốn bên là núi. Người Cơ Tu thôn Công Dồn sống khá tập trung, nhà ở gần như sát nhau, dáng nhà sàn, mái hình mu rùa, lợp lá nón, lá mây hoặc lá tranh. Chính giữa có ngôi nhà chung (nhà Gươl) là nơi diễn ra các lễ hội truyền thống của cộng đồng, sinh hoạt chung của làng. Người Cơ Tu ở Công Dồn canh tác theo hình thức luân phiên, đất làm một mùa rồi bỏ, lại làm rẫy mới và cứ 2 đến 3 năm sau mới làm lại. Đất canh tác trồng các loại hoa màu như: lúa, bắp đậu còn lại diện tích trồng cây bông. Do độ dốc lớn nên hầu hết các loại cây trồng ở đây hàng năm cho năng suất rất thấp.

Cũng như cộng đồng dân tộc Cơ Tu nói chung, người Cơ Tu ở Công Dồn xã Zuôih huyện Nam Giang từ xa xưa, họ đã biết trồng cây bông để dệt vải. Cây bông được trồng trên đất rẫy, dọc theo suối Rinh. Bông được trồng vào tháng 2, tháng 3. Thời điểm khí hậu đã ấm, đất có độ ẩm cao, người Cơ Tu thôn Công Dồn dọn đất để tỉa. Họ dùng cây chọc lỗ (chuh tboong) để tỉa bông, khoảng cách mỗi lỗ từ 1 đến 2 gang tay (cho đất dốc và đất đã qua sử dụng từ 2 đến 3 mùa rẫy) từ 2 đến 3 gang tay cho đất mới khai phá và đất dọc theo suối. Khi bông được 1 tháng, họ tiến hành dọn cỏ, tỉa bớt đi những cây nhỏ kém phát triển. Từ 3 đến 4 tháng (khoảng tháng 6, tháng 8) cây bông có thể cho thu hoạch.

Qua tìm hiểu ở làng Công Dồn có 64 hộ thì có đến 40 hộ trồng bông dệt vải. Trung bình mỗi hộ trồng được gần 1 ha, có gia đình trồng từ 2 đến 3 ha. Bông ở Công Dồn là loại giống bông có xuất xứ từ cây bông của người Cơ Tu anh em bên Lào (Kpaylao), đây là loại giống bông hiện diện từ xa xưa đến nay, dân làng vãn còn duy trì và loại bông của người Kinh (KpayPrâng) do trao đổi buôn bán. Để có được bông tốt họ tiến hành lựa những quả bông tốt, loại những quả bông xấu. Để tạo ra sợi bông để dệt (vì còn hạt) họ dùng giàn tách bông (Jàng iêu), vật đánh tơi bông (Tà Pếch), giàn quay sợi (Ver), giàn quấn sợi (Tur), khung kéo sợi (Chair), khung dệt (O óp). Khung dệt của họ gồm 10 bộ phân chính gồm: cây gỗ dát mỏng dài khoảng 2 cm cong để cột dây choàng vào sau lưng (Chơ Rơ Đo), ống tre để người thợ dệt đạp vào chân vào cho khung dệt căng ra làm cho các sợi vải được căng thẳng (Dhờ Rá), cây dẹp làm bằng gỗ để dập mạnh vào cho vải được kín (Chrờ Tau), cây lược chỉ để kéo lên kéo xuống khi ống con thoi chỉ đưa qua đưa lại (Trờ Ko), ống thoi chỉ để đưa sợi vào dệt (Xeh), cây nhỏ nhọn để lược chỉ khi người thợ tạo hoa văn (Pa nêh), hai cây để cuốn dần vải sau khi đã dệt xong (A nốp), hai cây làm bằng lát tre được vót nhọn ở 2 đầu để đo độ lớn, rộng của miếng vải, khi dệt được 1 đoạn thì di chuyển cây này để làm chuẩn dệt tiếp mà miếng vải không bị thụt vào hay lồi ra (Trờ Pâng), cây để tách sợi thành 2 lớp, lớp trên và lớp dưới (Trờ ko) và một lông nhím (lông con Nhím) dùng để chải, truốt cho sợi không bị sơ, rối (Mà lụa). Tất cả các dụng cụ trên được họ thoa sáp ong cho trơn (ctiêr).

Màu chủ đạo của trang phục là màu chàm đen và màu đỏ (brôông), đây là hai màu chủ đạo không thể thiếu. Người Cơ Tu quan niệm rằng: màu đen (tăm) là màu của đất (catiếc), mà đỏ (brôông) là màu của mặt trời (măt tơngay), đây là hai màu của hai vật thiêng không thể thiếu trong đời sống của họ. Để có những màu sắc ưng cái bụng, người Cơ Tu thôn Công Dồn phải tìm hiểu, nghiên cứu từ nhiều loại vỏ cây, ốc... nhuộm màu là cả một quá trình đúc kết kinh nghiệm từ đời này qua đời khác, là cả một bí quyết mà chỉ có người Cơ Tu nơi đây mới thấu hiểu và làm được. Muốn có màu chàm đen họ dùng từ cây Tà Râm giã nát ngâm lâu ngày, màu vàng (rơơc) từ củ Ma Rớt, màu đỏ từ cây Ahứ cũng được giã nát ngâm trong nước.

Người Cơ Tu thôn Công Dồn thích nhất là hoa văn bằng chì (hiện nay hoa văn này không còn thấy họ dùng nữa) thứ đến là hoa văn bằng cườm (Chr tu arát) (hạt cườm làm bằng nhựa tổng hợp mua dưới xuôi). Do điều kiện sống gần gũi với thiên nhiên nên trang phục của người Cơ Tu nơi đây rất đa dạng và phong phú. Tuỳ thuộc vào từng lứa tuổi mà cách sáng tạo hoa văn bằng cườm khác nhau như: Hoa văn hình hoa tình yêu (Ablơm), hoa văn lá (Atút) hình chiếc chong chóng, hình các thiếu nữ Cơ Tu múa Da Dá (múa nữ), hoa văn hình lá trầu (A bá), hoa văn xoắn buộc nhà Gươl (Hơ ma ca ting)... Sau đó được dệt hoàn toàn bằng phương pháp thủ công nhưng các hoạ tiết hoa văn hết sức tinh tế tạo thành những hoạ tiết hoa văn đặc sắc bằng cườm trắng (arát bhooc) trên nền chàm đen thể hiện tính thẩm mỹ và tài năng sáng tạo của người phụ nữ Cơ Tu rất cao.
Điều dễ nhận thấy qua trang phục của họ là sự đơn giản, không cầu kỳ về màu sắc. Tuy nhiên, theo quan niệm của họ màu sắc luôn thể hiện phản ánh được nhân sinh quan, thế giới quan của người Cơ Tu về vạn vật, trời (plêng), đất (ca tiếc), vũ trụ... sản phẩm của người Cơ Tu Công Dồn gồm:

Váy ngắn (Ơ Réch) được dệt trên nền chàm đen, có màu trắng, đỏ, vàng, là loại váy được thiếu nữ và phụ nữ Cơ Tu mặc ở nhà hoặc đi làm rẫy. Các hoạ tiết hoa văn đơn giản, không cầu kỳ. Trong các lễ hội lớn của buôn làng như: lễ ăn mừng nhà Gươl (lang Tơ Rí); Lễ ăn mừng được mùa (B Huối Aví); Lễ ăn mừng lúa mới (Chaha Roo Tơ mêê)... váy ngắn được các phụ nữ Cơ Tu lớn tuổi mặc nhiều hơn.

Váy dài (Cơ đơ ớch) được dệt trên nền chàm đen, có nhiều màu đỏ, trắng, vàng, có nhiều hoạ tiết hoa văn bằng cườm rất sinh động như: hoa văn cườm trắng hình mã não, hoa văn bằng cườm hình thiếu nữ Cơ Tu múa Da Dá (múa nữ), hoa văn bằng cườm hình cửa sổ tình yêu, dây buộc nhà Gươl (Hơ ma Ca ting), hoa văn hình lá trầu (A bá)... loại váy này được các thiếu nữ Cơ Tu chưa chồng rất thích và họ mặc cả trong ngày thường và trong các lễ hội lớn của cộng đồng. 

Dây thắt ngực: dây có chiều dài khoảng 1,8 mét đến 2 mét, chiều rộng 10 cm, dây được dệt trên nền vải trắng mộc, có nhiều hoạ tiết hoa văn hình học cách điệu, hai đầu dây có tua dài nhiều màu khoảng 30 cm. Dây thắt ngực có công dụng buộc cho váy khỏi bị tuột. Ngoài ra dây thắt ngực còn là dây tô điểm làm tăng thêm phần hấp dẫn cho váy, khi các thiếu nữ Cơ Tu thực hiện các động tác múa (da dá) uyển chuyển mà không sợ váy tuột.

áo cộc tay (A Doóh): được dệt trên nền chàm đen có nhiều màu vàng, trắng, đỏ, gồm 2 mảnh lại được khâu lại với nhau, có chiều rộng mỗi tấm từ 50 cm đến 60 cm, dài từ 40 cm đến 50 cm. Khi áo được khâu tạo áo có dáng hình cổ chữ V. áo cộc tay được dùng cho cả thiếu nữ và người phụ nữ lớn tuổi (áo dùng cho phụ nữ lớn tuổi, các hoạ tiết hoa văn ít cầu kỳ, đơn giản). áo dùng cho các thiếu nữ thì các hoạ tiết hoa văn cầu kỳ và hấp dẫn hơn. Hoa văn bằng cườm trắng hình thiếu nữ Cơ Tu múa Da dá (múa nữ), hoa văn bằng cườm hình hoa tình yêu, hoa văn bằng cườm hình cửa sổ tình yêu, hoa văn bằng cườm hình lá trầu, dây buộc nhà Gươl, hoa văn bằng cườm hình gợn sóng, hoa văn bằng cườm hình chong chóng... Trên phần vải của áo họ thêu nhiều tua rua màu đỏ, vàng trông rực rỡ sắc màu.

Khố nam (G’hul): khố đàn ông Cơ Tu được dệt trên nền chàm đen, có nhiều màu trắng, vàng đỏ. Chiều rộng khoảng 45 cm, chiều dài từ 3 mét đến 8 mét. Hoạ tiết hoa văn bằng cườm rất sinh động bởi: hoa văn bằng cườm hình dây buộc nhà Gươl, lá trầu, mã não, hình đàn ông Cơ Tu múa Tung Tung (múa Nam)... Ngoài các sản phẩm trên người Cơ Tu Công Dồn còn dệt tấm choàng, tấm đắp và các trang phục trẻ em.

Nghề dệt thổ cẩm truyền thống của người Cơ Tu thôn Công Dồn đã tạo nên tính đa dạng về màu sắc. Thổ cẩm của họ đi cùng với nhiều lễ hội lớn của buôn làng mang đầy tính nhân văn toát lên vẻ đẹp hoang sơ của núi rừng Trường Sơn - Tây Nguyên. Sản phẩm từ nghề dệt truyền thống của người Cơ Tu thôn Công Dồn không những có giá trị về mặt kinh tế mà còn là nét đẹp văn hoá trong phong tục, tập quán cộng đồng của người Cơ Tu từ xưa đến nay. Theo phong tục, các thiếu nữ Cơ Tu Công Dồn trước khi đi lấy chồng được chị, mẹ bày cách trồng bông, dệt vải, quay sợi, các thao tác về dệt. Nhờ đó mà nghề dệt thổ cẩm nơi đây được duy trì và phát triển từ đời nay sang đời khác, đóng góp tích cực vào nhu cầu mặc, làm ra hàng hoá để trao đổi, buôn bán, tăng thêm thu nhập, mức sống của họ vốn còn gặp không ít khó khăn, thiếu thốn.

Trung bình mỗi năm, tranh thủ thời gian nông nhàn, các mẹ, các chị trong thôn đã dệt khoảng 500 tấm tút, váy, áo các loại... nhiều Mế như: Alăng Tuôn, Tơ Ngôn A Đắp, B Nướch Gong... đã ngoài 70 tuổi mà vẫn cùng con cháu trong làng đến nhà Gươl để dệt vải. Trong các cuộc họp của các ban, ngành, đoàn thể như: Chi hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Hội nông dân... đều có kế hoạch lồng ghép để tuyên truyền, vận động bà con trong buôn trồng bông dệt vải. Vào các ngày lễ, lễ hội của cộng đồng, thôn đều tổ chức cho các bà, các chị thi tay nghề, nhiều chị như : Ling Lan, Pơling Tuyết, Alăng Ướt, Alăng Hy, Pơloong Nhâm... có tay nghề rất giỏi. Bình thường mỗi tấm tút dệt khoảng thời gian từ 15 đến 20 ngày nhưng các chị chỉ dệt từ 10 đến 12 ngày.

Những sản phẩm dệt của bà con nơi đây không những dùng làm đồ sinh hoạt trong gia đình mà còn được mang đi trao đổi buôn bán với các địa phương khác hoặc dùng làm quà tặng cho những khách quý hoặc bà con, họ hàng thân thuộc. Trong khi nhiều nơi ở Quảng Nam nghề dệt thổ cẩm truyền thống có phần mai một hoặc không được chú trọng thì ngược lại, nghề dệt thổ cẩm truyền thống ở thôn Công Dồn, xã Zuôih vẫn được truyền giữ nguyên vẹn, đây là một điều đáng quý cần được giữ gìn và phát huy.

Nguyễn Văn Sơn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,921,147


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs