Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/05/2006
Phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam thời gian qua và một số định hướng cần quan tâm trong thời gian tới


Vùng miền núi Quảng Nam chiếm hơn 80% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh, đây là vùng căn cứ địa cách mạng trong chiến tranh, nay có vị trí chiến lược quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh biên giới, môi trường sinh thái của cả tỉnh và khu vực, là địa bàn cư trú từ lâu đời của các thành phần dân tộc thiểu số:

Cơ Tu, Xơ Đăng (gồm các nhóm Xơ Teng, Mơ Nâm, Cà Dong), Giẻ Triêng (gồm các nhóm Ba Noong, Ve, Tà Riềng) và Co; với 102.190 người, chiếm 7,2% dân số toàn tỉnh, tập trung ở 389 thôn, làng/69 xã ở các huyện: Đông Giang, Tây Giang, Nam Giang, Phước Sơn, Nam Trà My, Bắc Trà My, Hiệp Đức và một số ít xã ở các huyện đồng bằng. Toàn tỉnh có 113/233 xã miền núi, trong đó 63 xã thuộc diện đặc biệt khó khăn; có 12 xã biên giới ở hai huyện Tây Giang, Nam Giang với 142 km đường biên giới Việt - Lào. Đồng bào các dân tộc thiểu số của tỉnh rất tin tưởng vào Đảng, Bác Hồ, có truyền thống đoàn kết, cần cù lao động.

Từ năm 1997, sau khi tái lập tỉnh và từ 5 năm trở lại đây, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đầu tư, hỗ trợ, với sự lãnh đạo, chỉ đạo sát sao của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và sự vươn lên của các địa phương, của đồng bào các dân tộc bộ mặt nông thôn miền núi, sản xuất và đời sống của các dân tộc thiểu số đã có nhiều đổi thay đáng kể. Nhiều năm trước, một số câu hỏi đặt ra đối với vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số là: Làm sao đẩy nhanh tốc độ xoá đói giảm nghèo? Tại sao chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm, đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số vẫn phát nương, làm rẫy, chưa có nền kinh tế hàng hoá? Tại sao rừng vẫn tiếp tục bị tàn phá? Nguồn lực nào để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng cơ sở miền núi, nhất là vùng đặc biệt khó khăn? Làm cách gì để khôi phục, bảo tồn các giá trị văn hoá truyền thống các dân tộc? Làm thế nào để phát huy vai trò chủ thể, chủ nhân của núi rừng và để đồng bào có nguồn thu đảm bảo cuộc sống?… Nhiều câu hỏi, nhiều vấn đề từng bước được tỉnh, các địa phương miền núi dần trả lời, tìm cách tháo gỡ bằng chính những việc làm thiết thực. Năm 2001, năm đầu tiên triển khai thực hiện các nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh đề ra. Đặc biệt, triển khai thực hiện Nghị quyết 05 NQ/TU của Tỉnh uỷ về một số chủ trương và giải pháp trọng tâm về dân tộc và miền núi giai đoạn 2002-2007 cùng với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác dân tộc. Qua 5 năm triển khai, thực hiện cho thấy miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam đã có những thành tựu, những tiến bộ vượt bậc, cao hơn thời kỳ trước năm 2000. Sản xuất nông nghiệp ổn định, về diện tích cây lương thực cả lúa rẫy, lúa nước và cây lượng thực khác; gần 100% diện tích lúa nước gieo trồng bằng các loại giống mới có năng suất cao, đến nay bình quân năng suất cây lúa nước vùng cao chỉ thấp hơn bình quân chung toàn tỉnh từ 5-8 tạ/ha đã chứng minh cho sự đổi thay và hiệu quả canh tác của đồng bào; từ đó không có tình trạng thiếu lương thực; không xảy ra đói giáp hạt là một tín hiệu đáng mừng ở vùng dân tộc thiểu số Quảng Nam trong nhiều năm qua. Đáng mừng hơn là diện tích rừng bị phá để làm rẫy đã thu hẹp đáng kể; nhiều huyện vùng cao như Phước Sơn, Đông Giang, Bắc Trà My… đã hoàn tất khoanh vùng diện tích nương rẫy để giao cho dân canh tác lâu dài. Phát triển chăn nuôi là hướng đi chính, đầy triển vọng, đã chuyển mình; nhiều nguồn vốn và nhiều hộ dân đã tập trung phát triển mạnh mô hình chăn nuôi bò hộ gia đình từ nguồn vốn vay các chương trình xoá đói, giảm nghèo, từ hình thức “Ngân hàng bò”… đã tạo cho người dân có thu nhập kinh tế cao. Đến nay tổng đàn bò của 8 huyện vùng cao, miền núi chiếm hơn 23% tổng đàn toàn tỉnh. Cuối năm 2005, đã có nhiều hộ gia đình dân tộc thiểu số ở các huyện Bắc Trà My, Đông Giang, Phước Sơn… nhờ phát triển mạnh chăn nuôi bò có sản phẩm bán ra, có nguồn thu cùng với nguồn hỗ trợ 6 triệu đồng theo Quyết định 134 của Chính phủ đã xây dựng nhà ở mới, bền vững trị giá 15-16 triệu đồng.

Cùng với nỗ lực của toàn tỉnh, nguồn lực đầu tư của Nhà nước dành cho Quảng Nam là rất lớn, nhất là Chương trình 135, tập trung vào xây dựng kết cấu hạ tầng ở các xã, trung tâm cụm xã ở vùng các xã đặc biệt khó khăn miền núi của tỉnh. Đến năm 2005, sau 7 năm thực hiện chương trình đã xây dựng được 481 công trình thiết yếu: điện, đường, trường, trạm xá, thuỷ lợi, nước sinh hoạt… ở 63 xã đặc biệt khó khăn và ở 14 trung tâm cụm xã vùng miền núi với gần 230 tỷ đồng. Lồng ghép các nguồn lực khác vào đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng đặc biệt khó khăn trên 200 tỷ đồng với hơn 210 công trình. Hai dự án thành phần của Chương trình 135 là dự án ổn định và phát triển sản xuất và dự án quy hoạch sắp xếp dân cư thực hiện từ 2003 đã góp thêm sự đổi thay về chất đối với công tác định canh định cư cho 1.227 hộ dân tộc thiểu số; bước đầu tạo ra các cơ sở quan trọng để đồng bào chuyển đổi tập quán canh tác nương rẫy sang sản xuất hàng hoá, tiếp cận khoa học. Tỉnh, huyện hỗ trợ giống mới cây lương thực, cây nguyên liệu: sắn, mây và hỗ trợ các loại máy cày lồng đa chức năng, máy tẽ bắp, máy chẻ mây… hướng dẫn dân thực hiện có hiệu quả các chương trình là bước tiến bộ mới, góp phần thay đổi cách nghĩ, cách làm và có điều kiện để chuyển sang sản xuất hàng hoá, đây là bước đi đúng trên con đường giảm nghèo cho đồng bào miền núi Quảng Nam.

Đến nay, so với trước năm 1999, vùng đặc biệt khó khăn miền núi Quảng Nam có thêm 30 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, nâng tổng số có 51 xã/63 xã có đường ô tô; 50% số dân có điện thắp sáng; 84% số xã có trạm xá kiên cố; 90% xã và 50% thôn có trường học kiên cố; 50% số dân được dùng nước sạch… Với kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, các xã có điều kiện để phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lưu thông hàng hoá thuận lợi và đời sống văn hoá vật chất, tinh thần của người dân đã nâng lên rõ rệt. Cơ bản kiểm soát các dịch bệnh, tỉ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tăng cao. Tỉ lệ giảm nghèo đạt tốc độ nhanh hơn những năm trước 1999; bình quân 4-5%/năm. Về cơ bản không còn hộ đói. Một kết quả rất mới ở miền núi, vùng dân tộc tỉnh Quảng Nam trong 3 năm trở lại đây đó là giao đất, giao rừng cho cộng đồng làng (thôn) quản lí, bảo vệ và hưởng lợi bằng tập quán, có quy ước của cộng đồng làng và theo pháp luật. Đây là một cách làm hoàn toàn chưa có tiền lệ nhưng kết quả cho thấy đúng đắn, có hiệu quả vì rừng được giữ tốt hơn, hạn chế lâm tặc, người dân, cộng đồng dân cư có được tài sản do nhà nước giao, có quyền lợi với tài sản được giao nên họ có lợi ích từ rừng, họ còn được sống với rừng theo tập quán, niềm tin, tâm linh. Đóng cửa không khai thác rừng tự nhiên, giao đất, giao rừng cho cộng đồng làng làm cho rừng phục hồi nhanh, rừng có chủ thật sự là kết quả của một chủ trương đúng, hợp lòng dân, hợp lẽ tự nhiên. Đến năm 2005 đã giao 81.992 ha rừng và đất rừng cho 137 cộng đồng làng; giao cho Uỷ ban nhân dân xã quản lí 41.487 ha. Đồng thời năm 2006 tiếp tục triển khai giao cho 85 cộng đồng làng với 74.401 ha.

Miền núi, vùng dân tộc thiểu số Quảng Nam trước yêu cầu phát triển đến năm 2020 trở thành tỉnh công nghiệp do đó phát triển sản xuất, xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao dân trí, nâng chất lượng nguồn nhân lực vùng miền núi, dân tộc thiểu số… đang là nhiệm vụ nặng nề cần tập trung nhiều công sức. Những năm qua, tỉnh và các huyện đã tập trung nguồn lực và các giải pháp riêng để bồi dưỡng, đào tạo nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cơ sở: có kinh phí riêng, mở các lớp riêng với nội dung riêng về chính trị, hành chính, ngành nghề… cho đối tượng cán bộ dân tộc thiểu số, triển khai đưa cán bộ về tăng cường cho các xã đặc biệt khó khăn; ban hành các chính sách hỗ trợ thêm ngoài chính sách của trung ương cho hệ thống giáo dục phổ thông nội trú từ tỉnh về cụm xã với mục tiêu tạo nguồn đào tạo cán bộ. Tỉnh uỷ có Nghị quyết chuyên đề về đào tạo và sử dụng cán bộ dân tộc ít người để xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc ít người nâng cao chất lượng về nhận thức và hoạt động thực tiễn đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hoá vùng miền núi. Các ngành của tỉnh đã làm tốt công tác kết nghĩa, giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn, đã có nhiều ngành giúp đỡ xã trong giáo dục, đào tạo con em, nâng cao năng lực cho cán bộ xã, hỗ trợ các điều kiện để hoạt động của bộ máy Đảng, chính quyền, các đoàn thể xã tốt hơn, sau 4 năm nguồn lực hỗ trợ kết nghĩa đạt gần 5 tỷ đồng. Trong 7 năm thực hiện Chương trình 135, tỉnh và các huyện đã mở 43 lớp bồi dưỡng nâng cao năng lực cho hơn 2.400 lượt cán bộ xã, thôn. Uỷ ban nhân dân tỉnh đang chỉ đạo các ngành, địa phương triển khai các đề án đào tạo nghề cho thanh niên dân tộc và ở trường nội trú tỉnh.

Đến năm 2005, có thể nói rằng nhiều lĩnh vực ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Nam phát triển nhanh theo hướng bền vững. Tuy nhiên, vẫn còn những yếu kém, khó khăn, đã, đang và sẽ đặt ra nhiều thách thức trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đồng bộ, bền vững kinh tế - xã hội, an ninh - quốc phòng, môi trường sinh thái vùng miền núi của tỉnh như điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nhất là địa hình hiểm trở, độ dốc lớn khó tổ chức sản xuất theo hướng tập trung để chuyển dịch cơ cấu theo hướng kinh tế hàng hoá và gây khó khăn trong đầu tư xây dựng các công trình phục vụ sản xuất, phúc lợi tuyến cơ sở xã, thôn; đặc biệt là đối với địa bàn các xã vùng cao, biên giới. ở vùng cao phương thức sản xuất còn lạc hậu, chất lượng lao động thấp, đại bộ phận người dân còn sản xuất nương rẫy và trình độ dân trí thấp khó chuyển giao và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nên năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi, ngành nghề thấp, bấp bênh. Điểm xuất phát của thang bậc lịch sử xã hội còn thấp, người dân và cộng đồng vẫn còn tồn tại một số tập quán lạc hậu, kìm hãm sản xuất và có tác động tiêu cực đến đời sống, sức khoẻ của đồng bào. Năng lực chỉ đạo, tổ chức thực hiện và tri thức của đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ xã, thôn chưa ngang tầm đòi hỏi của công cuộc xây dựng, phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới. Một số địa bàn có tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội diễn biến phức tạp như lâm tặc, đào đãi vàng… Một số chính sách đầu tư của Nhà nước đầu tư ở vùng miền núi và đối với đối tượng dân tộc thiểu số hiệu quả chưa cao cần điều chỉnh và tạo những động lực mới phù hợp với yêu cầu mới.

Xét trên bình diện toàn tỉnh, vùng miền núi, dân tộc thiểu số là địa bàn khó khăn, yếu kém nhất về kinh tế - xã hội, nơi tập trung diện nghèo cao nhất của tỉnh, tỉ lệ đói nghèo theo chuẩn mới ở các huyện vùng cao đều trên 52%; bình quân lương thực đầu người đạt 338 kg/năm, thu nhập đầu người chỉ đạt trên 1 triệu đồng/năm. Tỷ trọng sản xuất nông nghiệp vùng miền núi còn chiếm 92%, huyện Tây Giang, Nam Trà My là hai huyện mới chia tách hầu như chưa có hoạt động sản xuất công nghiệp, dịch vụ. Từ thực tế đó, căn cứ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc, phải phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh - quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi với mục tiêu xoá đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống, trình độ dân trí, chăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào dân tộc và Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ (khoá XVIII) về một số chủ trương, giải pháp trọng tâm về dân tộc và miền núi giai đoạn 2002-2007: Phải lấy dân làm gốc, dựa vào dân, vì lợi ích mọi mặt của người dân để đầu tư, hỗ trợ, vận động. Đầu tư phải hướng vào vấn đề trọng tâm là nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào thiểu số. Như vậy thiết nghĩ trong những năm tiếp theo, để đẩy nhanh tốc độ giảm nghèo, nâng cao chất lượng sống, năng lực sản xuất của người dân và hệ thống chính trị ở cơ sở cần tiến hành các biện pháp, giải pháp đồng bộ và cụ thể mà mục tiêu quan trọng nhất là hướng vào con người, vì chủ nhân của núi rừng một cách toàn diện. Phải hỗ trợ, giúp dân loại bỏ càng nhanh càng tốt tập quán canh tác lạc hậu, chuyển dịch cho được với tốc độ nhanh, có chất lượng để hình thành nền sản xuất hàng hoá, tạo điều kiện cho từng hộ dân và cộng đồng tại chỗ gắn bó với rừng, giữ được rừng, sống được bằng nghề rừng và giảm nghèo từ việc khai thác các thế mạnh đa dạng của rừng, đất rừng, các đặc thù khác về tự nhiên và văn hoá tộc người; có thể xem đây là cái nền của công nghiệp hoá ở địa bàn miền núi, vùng dân tộc thiểu số. Vì rằng, cho đến nay đại bộ phận đồng bào vẫn còn sống phụ thuộc vào kinh tế nương rẫy, nguồn thu chủ yếu là lúa. Thiết nghĩ, chuyển từ kinh tế nương rẫy, thuần nông, trồng cây lúa cạn sang trồng cây hàng hoá có giá trị, phát triển chăn nuôi nhất là con bò hàng hoá, phát triển mô hình kinh tế hộ gia đình theo mô hình V.A.C.R (vườn, ao, chuồng, rừng), tham gia quản lí, bảo vệ rừng để hưởng lợi, có sản phẩm bán ra ngoại vùng, có nguồn thu ngắn ngày, dài ngày để giải quyết các nhu cầu thiết yếu trong đời sống hàng ngày là hướng đi đúng. Phát triển mạnh chăn nuôi bò ở hộ gia đình, trồng cây sắn, cây mây, cây nguyên liệu sẽ đảm bảo khả năng giải quyết nhu cầu lương thực và phát triển các ngành, nghề truyền thống, nghề mới có sản phẩm hàng hoá, phát triển các dịch vụ du lịch văn hoá, sinh thái… để đồng bào có nguồn thu bền vững, nâng cao mức sống của mình, không chỉ để thoát nghèo mà còn có khả năng tích luỹ làm giàu. Phát triển kinh tế hộ gia đình theo các hướng này sẽ tạo sự chuyển dịch kinh tế ở toàn vùng dân tộc góp phần hình thành cơ cấu kinh tế mới của tỉnh.

Thực hiện Quyết định 134 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn, tỉnh Quảng Nam xác định cần nhất là giải quyết nhà ở, với trên 11 ngàn hộ, chiếm khoảng 60% tổng số hộ dân tộc thiểu số nhà ở còn tạm bợ. Thời gian tới cần coi trọng công tác tuyên truyền, vận động ý thức tự giác vươn lên của từng hộ dân “mình lo cái nhà cho mình”, mỗi hộ cần phát triển nuôi bò, trồng cây có giá trị, khai thác thêm lâm sản phụ để bán ra, có thêm đồng tiền góp cùng nguồn kinh phí của Nhà nước hỗ trợ để làm nhà; phát huy mạnh mẽ tinh thần tương thân tương trợ trong cộng đồng theo mô hình “vòng công, đổi công” để cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước dựng được ngôi nhà “mái cứng, vách cứng, sườn cứng, nền cứng…”. Đồng thời, sớm quy hoạch, bố trí đất ở, đất khu dân cư ở từng hộ gia đình, thôn, xã theo hướng gắn với đất phát triển sản xuất; thuận lợi trong giao lưu đi lại; gắn cơ sở hạ tầng đã có, thuận lợi trong đầu tư xây dựng sắp đến; phù hợp nguyện vọng và tập quán của người dân. Giao thông là khâu đầu tiên để cho người dân có điều kiện phát triển kinh tế hàng hoá. Vì vậy, cần chỉ đạo tập trung các nguồn vốn để đầu tư xây dựng các tuyến đường liên xã, phấn đấu 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, đi lại được hai mùa mưa, nắng, trước mắt ở miền núi Quảng Nam tập trung đầu tư khai thông các tuyến đường lên các xã vùng cao, biên giới hai huyện Nam Trà My và Tây Giang. Đối với đường liên thôn, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ công cụ lao động và lương thực để nhân dân tự làm theo phương châm hỗ trợ tính trên số km đường liên thôn được làm. Phát động phong trào nhân dân làm đường giao thông nông thôn và nêu cao tinh thần trách nhiệm bảo quản các tuyến đường giao thông liên vùng, cầu, cống ở địa bàn làng, thôn mình, xem đây là một thành tích trong xây dựng làng văn hoá. Hàng năm Nhà nước cần hỗ trợ kinh phí duy tu bảo dưỡng các công trình xây dựng ở xã, thôn.

Tiếp tục đầu tư để kiên cố hoá và có thiết bị y tế cần thiết cho 100% trạm y tế xã; đào tạo đội ngũ cán bộ y tế xã để hầu hết các xã có bác sỹ; tiếp tục có chính sách để phát động, động viên và thực hiện phong trào y, bác sỹ trẻ tình nguyện lên công tác ở vùng dân tộc thiểu số, tiếp tục thực hiện chính sách cấp phát thuốc chữa bệnh không thu tiền cho đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực III. Nghiên cứu và xây dựng các vườn thuốc Nam và sưu tầm, phổ biến các kinh nghiệm, bài thuốc, cây thuốc chữa bệnh dân gian của các dân tộc để chữa bệnh đồng thời lưu giữ, phát huy tri thức bản địa của đồng bào. Có các hình thức phù hợp để phát động phong trào xây dựng hộ dân, cộng đồng làng, gia đình điển hình về sản xuất giỏi, có văn hoá, đoàn kết tốt… để nhân rộng, làm trỗi dậy ý thức tự giác phấn đấu, tự hào của người dân, tự ái với nghèo đói, chống cái xấu, có hại từ bên ngoài vào. Cần tiếp tục hỗ trợ, vận động đồng bào đẩy mạnh hơn phong trào khôi phục, dựng nhà sinh hoạt chung của cộng đồng làng, thôn; xây dựng các làng nghề truyền thống, làng du lịch văn hoá - sinh thái ở dọc các tuyến đường liên vùng và đường Hồ Chí Minh, phát huy vốn văn hoá truyền thống các dân tộc ngay chính tại cộng đồng, tôn vinh người có uy tín trong cộng đồng và các nghệ nhân. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực chỉ đạo sản xuất, tổ chức đời sống cho cán bộ xã, nhất là đối với cán bộ thôn. Xem thôn làng là một đơn vị cơ bản về tổ chức sản xuất và là đơn vị xã hội để hỗ trợ, đầu tư, chỉ đạo và xây dựng các mô hình đồng thời chăm lo mọi mặt cho con người ở trong cộng đồng ấy.

Tin tưởng rằng với nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ Quảng Nam lần thứ XIX và nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số Quảng Nam sẽ có những đổi thay, tiến bộ nhiều hơn, đi nhanh hơn trên con đường xoá nghèo.

Nguyễn Tri Hùng
Phó Trưởng Ban DT tỉnh Quảng Nam

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,258,993


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs