Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 26/05/2006
Vấn đề đoàn kết các dân tộc trong tư tường Hồ Chí Minh


Đồng chí KSor Phước - Uỷ viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng, chủ nhiệm UBDT thăm, tặng quà các nhà sư chùa Mo ni vong sa, thành phố Cà Mau

Việt Nam là một quốc gia thống nhất gồm nhiều dân tộc sinh sống, kề vai sát cánh bên nhau trong suốt 4000 năm dựng nước và giữ nước. Trong chặng đường lịch sử trường kỳ đó, các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, gắn bó keo sơn để chống giặc xâm lăng, chế ngự thiên nhiên, khắc phục thiên tai và xây dựng đất nước. Đoàn kết đã trở thành truyền thống quý báu, nguồn sức mạnh to lớn đưa dân tộc ta vượt qua mọi gian nan, thử thách, chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Kế thừa truyền thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết toàn dân tộc, khơi dậy và phát huy sức mạnh đoàn kết của đại gia đình các dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nghị quyết Trung ương lần thứ 7, khoá IX của Đảng đã khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”.

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề đại đoàn kết dân tộc có một vị trí quan trọng đặc biệt. Quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, từ việc tiếp thu Chủ nghĩa Mác - Lênin, đúc kết từ lịch sử thế giới và lịch sử dân tộc, Hồ Chí Minh nhận rõ: “Đoàn kết là sức mạnh, có sức mạnh đoàn kết thì làm việc gì cũng thành công”. Đối với cách mạng Việt Nam, đại đoàn kết dân tộc đã trờ thành chiến lược lớn nhất, bao trùm, xuyên suốt toàn bộ tiến trình cách mạng, được Hồ Chí Minh khái quát thành khẩu hiệu hành động của toàn Đảng, toàn dân ta: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết. Thành công, thành công, đại thành công”. Theo Người, đoàn kết là một truyền thống quý báu của dân tộc ta được hun đúc, cô đọng trong suốt lịch sử đấu tranh, xây dựng và bảo vệ đất nước. Đây là một giá trị văn hoá, đồng thời cũng là một nguyên tắc sống còn được thực tiễn lịch sử dân tộc chứng minh. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Người luôn coi trọng và khẳng định tầm quan trọng của vấn đề đại đoàn kết các dân tộc, bởi theo Người: “Vì có đoàn kết với có lực lượng, có lực lượng mới giành được độc lập, tự do”. Ngay từ năm 1942, Người đã chỉ rõ: “Sử ta dạy cho ta bài học này: lúc nào dân ta đoàn kết muôn người như một thì nước ta độc lập, tự do. Trái lại, lúc nào dân ta không đoàn kết thì bị nước ngoài xâm lấn”. Nghiên cứu lịch sử dân tộc, ta càng thấm thía sự đúc kết, dạy bảo của Người. Chúng ta như còn nghe đâu đây sức mạnh toàn dân trong cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng để “Hô một tiếng làm cả 65 Thành nổi dậy”; sức mạnh từ Hội nghị Diên Hồng và hào khí Đông A tạo nên sự nhất trí “Quyết đánh” của Vua - Tôi nhà Trần với ba lần đánh tan quân Nguyên; sức mạnh đoàn kết từ “Hội thề Lũng Nhai”, trải qua suốt 10 năm “Nếm mật nằm gai” của nghĩa quân Lam Sơn để có được “Xã tắc từ nay vững bền, giang sơn từ nay đổi mới”…

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, cơ sở để các dân tộc trên đất nước Việt Nam đoàn kết chặt chẽ là vì đồng bào các dân tộc Việt Nam đều có chung một cội nguồn sâu xa là con Lạc cháu Hồng, đều là con dân nước Việt. Vì thế, Người thường dùng hai tiếng” đồng bào” để gọi toàn thể người dân Việt Nam. Trong suy nghĩ và tình cảm của mình, Người luôn coi 54 dân tộc sinh sống trên đất nước Việt Nam đều là anh em một nhà, là thành viên không thể chia cắt của đại gia đình dân tộc Việt Nam. Thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số Miền Nam tại Plâycu ngày 19/4/1946 Người chỉ rõ: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Ba Na hay Xê Đăng và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”. Với Người, mọi người dân Việt Nam dù thuộc thành phần dân tộc nào cũng đều là tình ruột thịt, nghĩa đồng bào, chung một gia đình lớn Việt Nam nên phải thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Trong thư gửi học sinh Trường sư phạm Miền núi Trung ương nhân dịp khai giảng, Người cũng chỉ rõ: “Các cháu thuộc nhiều dân tộc và ở nhiều địa phương. Nhưng các cháu đều là con em của đại gia đình chung: là gia đình Việt Nam, đều có một Tổ quốc chung: là Tổ quốc Việt Nam”.

Sự đoàn kết gắn bó giữa các dân tộc trên đất nước Việt Nam còn bởi các dân tộc ở Việt Nam đều có chung những lợi ích cơ bản, có chung vận mệnh dân tộc. Lợi ích chung nhất ở đây là chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Người đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa lợi ích riêng của mỗi dân tộc phải đặt trong lợi ích chung của toàn dân tộc. Nước mất thì Nhà cũng tan, đất nước bị xâm lăng thì toàn dân tộc, không kể dù dân tộc đa số hay thiểu số đều trở thành nô lệ. Kẻ thù của toàn dân tộc cũng là kẻ thù của mỗi dân tộc và mỗi dân tộc không thể tự giải phóng mình nếu không dựa vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Cho nên, Người đã chỉ rõ: “Tổ quốc là Tổ quốc chung. Tổ quốc độc lập thì ai cũng được tự do. Nếu nước mất thì ai cũng phải làm nô lệ”. Và “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non, để ủng hộ Chính phủ ta. Đây chính là những nét tương đồng, là mẫu số chung làm cho số phận, lợi ích của mỗi dân tộc phải gắn liền với vận mệnh của toàn thể dân tộc và chính đặc điểm chung đó đã làm cho các dân tộc trên đất nước Việt Nam, qua những bước thăng trầm của lịch sử, những biến cố, thử thách khắc nghiệt của cuộc sống càng thêm đoàn kết, gắn bó thuỷ chung.

Để thực hiện sự đoàn kết giữa các dân tộc, Hồ Chí Minh yêu cầu các dân tộc phải thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, xoá bỏ những bất đồng, mặc cảm, tôn trọng và có trách nhiệm với đất nước, với dân tộc. Khi nói chuyện với đồng bào các dân tộc tỉnh Tuyên Quang, ngày 27/3/1961, Người chỉ rõ: “Đồng bào tất cả các dân tộc phải đoàn kết chặt chẽ, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau như anh em trong một nhà”. Người cho rằng các dân tộc trên đất nước Việt Nam dù đa số hay thiểu số đều có lòng yêu nước thiết tha, có tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, có nhiều công lao trong sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Song do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau, nên điều kiện kinh tế - xã hội của đồng bào các dân tộc khác nhau. Vì vậy, đồng bào các dân tộc không chỉ thương yêu nhau mà còn phải biết giúp đỡ lẫn nhau một cách chân thành. Người nhắc nhở: “Có một số ít đồng bào miền xuôi còn có những hành động không đúng, cho nên ảnh hưởng đến tình đoàn kết anh em… như thế là không tốt. Phải đoàn kết các dân tộc, phải đoàn kết, thương yêu nhau về mọi mặt”. Nói chuyện với đồng bào tỉnh Yên Bái, Người căn dặn: “Dân tộc nhiều người phải giúp đỡ dân tộc ít người, dân tộc ít người cần cố gắng làm ruộng, hai bên phải giúp đỡ nhau. Dân tộc đông không phải giúp qua loa, cũng như dân tộc ít người không phải ngồi chờ giúp. Một bên ra sức giúp, một bên ra sức làm. Giúp nhau thì việc gì cũng nhất định làm được”.

Trong quan hệ giữa các dân tộc, Người cũng nhận thấy những tư tưởng, biểu hiện sai trái cần phải đấu tranh loại bỏ. Đó là những thành kiến, tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi. Người cho rằng, sự thành kiến về thành phần dân tộc của nhau là biểu hiện tư tưởng lạc hậu, cổ hủ đã ngăn cản sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, ngăn cản việc thực hiện đại đoàn kết dân tộc. Người cũng cho rằng, nước ta có nhiều dân tộc, đó là điểm quý, phải tôn trọng lẫn nhau, tránh xúc phạm nhau và phải khắc phục ngay tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc nhỏ. Nói chuyện tại Hội nghị tuyên giáo miền núi, Người yêu cầu: “Cũng phải khắc phục những tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, tự ti dân tộc. Người dân tộc lớn dễ mắc bệnh kiêu ngạo, cán bộ địa phương, nhân dân địa phương lại dễ cho mình là dân tộc bé nhỏ, tự ti, cái gì cũng cho là mình không làm được, rồi không cố gắng, đó là những điểm cần tránh”.

Để tăng cường đoàn kết các dân tộc, Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp uỷ đảng và chính quyền địa phương phải quan tâm cải thiện cuộc sống của đồng bào, chú trọng phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa; tuyên truyền, vận động đồng bào về công tác sản xuất, văn hoá, vệ sinh phòng bệnh để đồng bào dần ổn định cuộc sống. Đồng thời, phải: “thi hành đúng chính sách dân tộc, thực hiện sự đoàn kết, bình đẳng, tương trợ giữa các dân tộc”. Với đội ngũ cán bộ đảng viên, Hồ Chí Minh coi trọng tới phẩm chất, tư cách, đạo đức và sự đoàn kết trong nội bộ. Người cho rằng, cán bộ đảng viên phải giữ gìn đoàn kết nội bộ, phải là người kiểu mẫu về sự đoàn kết, nhất trí và phải thực sự là người đầy tớ tận tuỵ, trung thành của nhân dân. Người chỉ rõ: “Tất cả cán bộ đều phải một lòng một dạ phục vụ nhân dân; đều phải hết sức quan tâm đến đời sống của nhân dân; đều phải theo đúng chính sách của Đảng và đi đúng đường lối quần chúng”. Chỉ có như vậy, người cán bộ mới làm cho đồng bào các dân tộc tin yêu, nể phục, là tấm gương về tinh thần đoàn kết và mới vận động được nhân dân tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc.

Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề đoàn kết các dân tộc cho chúng ta thấy tư tưởng chiến lược và tình cảm Người dành cho đồng bào các dân tộc Việt Nam. Với Người, sự đa dạng của các thành phần dân tộc trên đất nước ta là một điểm quý, là ưu thế mà Đảng, Chính phủ cần phải phát huy trong công cuộc bảo vệ và xây dựng đất nước. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Người không dừng lại ở những tư tưởng mà đã trở thành những hoạt động thực tế chỉ đạo, xây dựng, thắt chặt tình đoàn kết giữa các dân tộc phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Người là tấm gương, là sự hiện thân cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, là “Vị Cha chung” của đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Đồng bào các dân tộc Việt Nam đã tin yêu, ngưỡng mộ Người, nguyện đi theo Người để làm cách mạng. Trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, tư tưởng đoàn kết các dân tộc của Người là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta đề ra quan điểm, chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc, định hướng xây dựng và tăng cường sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Ths.Phạm Văn Tuấn
Học viện Chính trị Quân sự

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,250


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs