Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/05/2006
Một số vấn đề về xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc

Ở nước ta hiện có 10 tỉnh đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ hơn 50% dân số, ngoài tỉnh Kon Tum ở khu vực Tây Nguyên còn lại 9 tỉnh đều ở khu vực miền núi phía Bắc. Do đó, vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị các cấp ở các tỉnh miền núi phía Bắc trong những năm qua được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.

Việc phát triển đa dạng các loại hình đào tạo như: Chính quy, tại chức, tập huấn… và thực hiện cải cách hành chính đã giúp cho đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số ở cơ sở được nâng cao trình độ chuyên môn, tăng cường năng lực quản lí, đáp ứng yêu cầu cơ bản trong sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của hệ thống chính trị cơ sở được rà soát và sắp xếp hợp lý hơn. Đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số được chăm lo mọi mặt, kiện toàn cả về số lượng và chất lượng.

Hiện nay, đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số đã có những bước trưởng thành quan trọng, thể hiện qua các số liệu cụ thể sau:

Thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp người dân tộc thiểu số (2004-2009) ở 16 tỉnh miền núi phía Bắc: ở cấp tỉnh chiếm 39%; ở cấp huyện chiếm 36,7%; ở cấp xã chiếm 46,3%.

Thành viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là người dân tộc thiểu số đã tăng lên nhiều. 6/16 tỉnh có tỷ lệ thành viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ trên 50%, đó là các tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Hoà Bình, Sơn La, Hà Giang.

Trình độ chuyên môn cũng được nâng lên rất nhiều so với nhiệm kỳ trước: ở cả 16 tỉnh miền núi phía Bắc, gần 100% thành viên Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có trình độ đại học và trên đại học. Tỷ lệ cán bộ trẻ được đào tạo trình độ chuyên môn và quản lí cũng được tăng lên (gần 40% thành viên Uỷ ban nhân dân các tỉnh có độ tuổi 46-51). Đối với cấp huyện: Trong các tỉnh miền núi phía Bắc có 4 tỉnh có tỷ lệ thành viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ hơn 50%, đó là các tỉnh: Cao Bằng, Lạng Sơn, Lai Châu, Hoà Bình. Trình độ chuyên môn của thành viên Uỷ ban nhân dân cấp huyện ở cả 16 tỉnh miền núi phía Bắc đều đạt hơn 75% có trình độ đại học và sau đại học, trong đó tỉnh có tỷ lệ cao nhất là tỉnh Nghệ An (96%) và tỉnh đạt tỷ lệ thấp nhất là Lai Châu (76%).

Đối với cán bộ cấp xã: Có 7 tỉnh miền núi phía Bắc có tỷ lệ thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ hơn 50%, đó là các tỉnh: Cao Bằng, Sơn La, Lạng Sơn, Lai Châu, Hà Giang, Lào Cai, Tuyên Quang.

Tuy nhiên, trong các thành viên Uỷ ban nhân dân các cấp thấy có rất ít cán bộ, thành viên uỷ ban là những dân tộc có mặt bằng dân trí thấp như: Mông, Dao, Khơ Mú, Si La… Ngoài sự quan tâm của các tỉnh đối với việc không ngừng nâng cao tỷ lệ cán bộ xã là người dân tộc thiểu số còn một số lý do khách quan và chủ quan khiến tỷ lệ cán bộ xã người dân tộc thiểu số còn rất hạn chế. Tỉnh Bắc Kạn thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số chỉ chiếm 15% trong khi đồng bào dân tộc thiểu số của tỉnh chiếm tỷ lệ gần 90% dân số trong tỉnh. ở tỉnh Thái Nguyên thành viên Uỷ ban nhân dân cấp xã là người dân tộc thiểu số chỉ chiếm tỷ lệ 3%, trong khi đồng bào dân tộc thiểu số chiếm 25% dân số trong tỉnh.

Về trình độ chuyên môn: Tuy các tỉnh miền núi phía Bắc có nhiều bước tiến về số lượng cán bộ xã là người dân tộc thiểu số nhưng trình độ chuyên môn của cán bộ cấp xã ở các tỉnh còn rất nhiều hạn chế. ở tỉnh Cao Bằng, tỷ lệ cán bộ xã có trình độ đại học chỉ đạt 0,15%. Tỉnh Nghệ An có tỷ lệ cán bộ xã có trình độ đại học cao nhất cũng chỉ đạt 28%. Các tỉnh khác đều chỉ đạt từ 5-15% cán bộ xã có trình độ đại học (Hà Giang 5,3%; Thái Nguyên 9,7%; Yên Bái 12,5%…). Tỉnh Tuyên Quang là tỉnh đầu tiên trong cả nước giao cho xã làm chủ đầu tư các hạng mục công trình thuộc Chương trình 135 cũng mới có 12,4% cán bộ xã có trình độ đại học.

Nhìn chung, trong thời gian qua đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc đã ngày càng trưởng thành về số lượng, trình độ chuyên môn từng bước được nâng lên. Một bộ phận cán bộ người dân tộc thiểu số đã đổi mới tư duy, phát huy năng lực vai trò lãnh đạo, sáng tạo trong công tác tuyên truyền vận động quần chúng, quản lí điều hành công việc bằng pháp luật và quy định của Nhà nước. Biết vận dụng sức mạnh đoàn kết của đồng bào các dân tộc, sức mạnh dân chủ để củng cố chính quyền cơ sở, phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào, góp phần tích cực trong sự nghiệp phát triển của địa phương. Tuy nhiên, trình độ cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế. Công tác đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số còn bộc lộ những khuyết điểm và tồn tại như sau:

Tỷ lệ cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trong các tỉnh miền núi phía Bắc thấp hơn nhiều so với các tỉnh khác trong cả nước. Đội ngũ cán bộ xã có trình độ học vấn tốt nghiệp bậc tiểu học và trung học cơ sở trung bình là 79,2%, cán bộ chưa qua đào tạo chiếm 61,9%. ở các xã đặc biệt khó khăn, trình độ cán bộ xã là người dân tộc thiểu số thấp đến mức đáng lo ngại, nhiều nơi cán bộ chủ chốt xã chưa học xong chương trình phổ thông cơ sở. Năng lực điều hành, quản lí của lãnh đạo chính quyền cơ sở ở một số nơi còn yếu, chậm đổi mới phương thức lãnh đạo, chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phát sinh từ cơ sở. Cán bộ người dân tộc thiểu số trong các cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương chiếm tỷ lệ thấp so với tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương. Công tác quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo, sử dụng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số chưa được quan tâm đúng mức. Năm 2005, 16 tỉnh miền núi phía Bắc chỉ có 732 chỉ tiêu cử tuyển học sinh dân tộc thiểu số học tại các trường cao đẳng, đại học trong cả nước. Đây là con số quá khiêm tốn so với tỷ lệ người dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Hiện nay, trên vùng có 3 trường đại học có nhiệm vụ chính là tuyển học sinh dự bị đại học dân tộc nhưng năm 2005 cả 3 trường mới chỉ xét tuyển được 787 học sinh dự bị đại học. Một số chính sách như: luân chuyển cán bộ, tăng cường cán bộ, chế độ đãi ngộ… đối với cán bộ dân tộc thiểu số và cán bộ công tác tại vùng dân tộc thiểu số chưa phù hợp, chậm được điều chỉnh bổ sung nên chưa thu hút được cán bộ lên công tác tại các vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, vùng đặc biệt khó khăn.

Nguyên nhân của những tồn tại trên là do một số cấp uỷ Đảng chính quyền các cấp ở một số địa phương chưa quan tâm đúng mức tới công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số, công tác đào tạo cán bộ thiếu đồng bộ, chưa thống nhất giữa các cấp, các ngành. Chưa quan tâm đến công tác tạo nguồn cán bộ dân tộc. Điều kiện kinh tế - xã hội ở các tỉnh miền núi phía Bắc khó khăn nhất so với cả nước hiện nay, làm ảnh hưởng không nhỏ trong công tác đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số. Thiếu nguồn để đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất và chương trình đào tạo. Chính sách cử tuyển bộc lộ nhiều khiếm khuyết như: Nội dung quy định đối tượng tuyển, vùng tuyển, ngành nghề đào tạo, phương thức đào tạo và việc sử dụng học sinh được đào tạo theo hệ cử tuyển như hiện nay là chưa phù hợp, dẫn đến tình trạng mất cân đối về cơ cấu và số lượng ngay trong đội ngũ của cán bộ dân tộc thiểu số và so với tỷ lệ cán bộ của các dân tộc trong cộng đồng. Hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú chưa được đầu tư phù hợp với quy mô đào tạo của từng vùng, từng dân tộc. Chưa bố trí cân đối trong việc đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc với việc đầu tư đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số tại chỗ. Hệ thống các trường đào tạo còn nhiều yếu kém, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, đội ngũ giáo viên chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tiêu chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ đối với cán bộ các cấp chậm được xây dựng, công tác xây dựng kế hoạch đào tạo cán bộ dân tộc chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các cấp nên việc đào tạo cán bộ người dân tộc thiểu số chưa bám sát theo yêu cầu thực tế đặt ra. Nội dung, phương thức đào tạo chậm được đổi mới. Chính sách đào tạo chưa phù hợp với đối tượng và điều kiện ở vùng dân tộc thiểu số. Đời sống cán bộ dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn trong khi chế độ phụ cấp cho cán bộ đi học và các điều kiện đảm bảo cho học tập chưa phù hợp đã hạn chế số lượng cán bộ dân tộc thiểu số đi học. Việc sử dụng sinh viên ra trường hiệu quả chưa cao, một phần do học sinh được cử tuyển trình độ thấp vẫn được cử đi học, một phần do các trường đại học, cao đẳng chưa chủ động trong việc đổi mới nội dung chương trình đào tạo phù hợp với hệ cử tuyển.

Để xây dựng được đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số tại chỗ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới cần tập trung thực hiện một số giải pháp sau:

Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc; Tăng cường bổ sung số lượng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong hệ thống chính trị vùng dân tộc thiểu số, nhất là đối với các dân tộc có tỷ lệ cán bộ thấp. Trong những năm trước mắt, cần tăng cường cán bộ có năng lực và phẩm chất tốt đến công tác ở các xã đặc biệt khó khăn, nhất là những địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng. Đổi mới chính sách cử tuyển, đề nghị tăng chỉ tiêu cử tuyển cho các tỉnh miền núi phía Bắc, nhất là đối với những dân tộc rất ít người; Mở rộng và nâng cấp các trường phổ thông dân tộc nội trú (tỉnh, huyện, xã). Nâng mức trợ cấp cho các học sinh dân tộc thiểu số có số dân dưới 10.000 người (Bố Y, Cơ Lao, Lô Lô, Mảng, La Hủ, Lự…).

Đề nghị tăng đầu tư cơ sở vật chất và tăng quy mô cho các trường dân tộc nội trú và chính sách cho các trường bán trú. Tăng chỉ tiêu cho các trường dân tộc nội trú huyện, tỉnh; tăng mức hỗ trợ cho học sinh dân tộc nội trú lên 300.000 đồng/người/tháng. Đề nghị cho phép cử tuyển học sinh nghèo dân tộc thiểu số ở cả vùng II, vùng I (vì vùng III rất ít hoặc không có các em tốt nghiệp phổ thông trung học). Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo thanh niên dân tộc thiểu số sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về địa phương làm nguồn bổ sung đội ngũ cán bộ ở cơ sở; Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng đặc biệt khó khăn và cán bộ người dân tộc thiểu số. Cần có chính sách ưu tiên đặc biệt trong bồi dưỡng đào tạo cán bộ dân tộc thiểu số nơi vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và cán bộ tăng cường xã đặc biệt khó khăn, xã phức tạp về an ninh chính trị ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Hoàn thiện cơ chế hoạt động của công tác dân tộc ở khu vực biên giới, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm an ninh quốc phòng các tỉnh Tây Bắc.

Cần có chế độ đãi ngộ, sử dụng các già làng, trưởng các dòng họ, người có uy tín trong cộng đồng các dân tộc thiểu số vừa để đảm bảo phát huy các giá trị truyền thống trong đời sống xã hội vừa góp phần đưa nhanh các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với đồng bào, góp phần tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc anh em.

Hoàng Công Dung
Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc
Phó Ban chỉ đạo Tây Bắc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,487


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs