Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/05/2006
Tư duy mới của Đảng về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc
Việt Nam là quốc gia đa dân tộc. Phần lớn các dân tộc thiểu số sống ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và hải đảo, nơi có vị trí chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh - quốc phòng và giao lưu quốc tế. Bởi thế, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn là vấn đề chiến lược của cách mạng nước ta.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7, Ban chấp hành Trung ương khoá IX khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng nước ta”.

Thực tế lịch sử dân tộc qua mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước đã minh chứng: Vận nước thịnh hay suy, phần quan trọng tuỳ thuộc vào việc giải quyết thành công hay không thành công vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc.

Nhận thức sâu sắc ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc, nên từ ngày thành lập đến nay, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng và thực hiện tốt chính sách dân tộc, củng cố và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Nhờ vậy, cách mạng nước ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Với đại thắng mùa xuân năm 1975, nước nhà độc lập, thống nhất cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau hai mươi năm tiến hành đổi mới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử; tư duy mới của Đảng về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc ngày càng được hoàn thiện và từng bước đi vào cuộc sống.

Tại Đại hội X, tư duy mới của Đảng ta về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc đã được khẳng định và được cuộc sống kiểm nghiệm. Nội dung của tư duy mới đó được thể hiện trên những điểm sau:
Thứ nhất, trong mọi giai đoạn phát triển của cách mạng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, Đảng ta luôn luôn coi trọng vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc. Sự nhất quán trong tư tưởng, quan điểm được thể hiện qua các kỳ đại hội:

Đại hội VI (1986), Đại hội đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, xác định chính sách dân tộc là bộ phận của chính sách xã hội, Đảng ta khẳng định: “Trong việc phát triển kinh tế, xã hội ở những nơi có đồng bào dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ tốt đẹp gắn bó giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể… Sự phát triển mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta”.

Đại hội VII (1991), Đại hội thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tiếp tục khẳng định chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta về vấn đề dân tộc: “Đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau giữa các dân tộc, cùng xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc tốt đẹp của mỗi dân tộc là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước ta”. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua trong Đại hội VII cũng khẳng định: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng các dân tộc Việt Nam”.

Đại hội VIII, sau 10 năm tiến hành đường lối đổi mới, cùng với việc khẳng định vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc Đảng ta còn đặt ra yêu cầu phải xây dựng và thực thi trên thực tế Luật dân tộc: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Xây dựng luật dân tộc”.

Đến Đại hội IX, Đại hội đầu tiên của thế kỷ XXI, nhận thức mới của Đảng về vấn đề dân tộc được thể hiện khi gắn vấn đề dân tộc với đoàn kết dân tộc và xem đây là vấn đề có vị trí chiến lược của cách mạng nước ta: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển”.

Báo cáo chính trị tại Đại hội X, trên cơ sở tổng kết 20 năm đổi mới, Đảng không chỉ tiếp tục khẳng định vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta: “Đảng ta luôn coi vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa… Đấu tranh ngăn chặn các hành vi lợi dụng các vấn đề dân tộc, chia rẽ các dân tộc, tôn giáo làm phương hại đến lợi ích chung của đất nước”.

Vậy là, qua các kỳ đại hội, thông qua việc chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta luôn nhất quán và từng bước cụ thể hoá quan điểm coi trọng vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc.

Hai là, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc được Đảng ta xem là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng.

Thực ra, không phải tới Đại hội X, Đảng ta mới xem vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược cơ bản và lâu dài. Đại hội lần thứ VIII của Đảng đã xem vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Tới Hội nghị Trung ương 7 khoá IX, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc đã được khẳng định là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài và đồng thời là vấn đề cấp bách. Đến Đại hội X, sau 20 năm đổi mới, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc tiếp tục được xem là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng. Điều đó, một mặt thể hiện sự nhất quán của Đảng ta trong việc luôn coi trọng và đánh giá đúng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc; mặt khác, cũng khẳng định vấn đề dân tộc ở nước ta trong 20 năm qua đã được giải quyết một cách cơ bản. Vấn đề dân tộc, mặc dù còn tiềm ẩn những phức tạp, bởi các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng để kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, song về cơ bản việc thực hiện chính sách dân tộc đã thu được những kết quả quyết định; các dân tộc thiểu số đã có nhận thức ngày càng sâu sắc và thực hiện có kết quả hơn chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước, giải quyết thành công hơn những vấn đề kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số; những điểm nóng đã được đồng bào các dân tộc giải quyết.

Thứ ba, nội dung chính sách dân tộc ngày càng được nhận diện rõ ràng hơn, đầy đủ hơn: bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Mặc dù có thời kỳ Đảng ta xác định nội dung chính sách dân tộc chủ yếu là thực hiện đoàn kết và bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển, song đến Đại hội X, Đảng ta khẳng định nội dung chính sách dân tộc là: Bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ.

Đã đến lúc cần khẳng định, dù trình độ kinh tế, văn hoá, xã hội giữa đồng bào dân tộc thiểu số và đa số còn chênh lệch, thậm chí có nơi còn chênh lệch khá lớn, song nội dung, yêu cầu bình đẳng, tôn trọng giữa các dân tộc là thực tế khách quan. Trong việc thực hiện chính sách dân tộc, trên thực tế có chính sách ưu tiên đối với đồng bào dân tộc thiểu số vùng sâu, vùng xa, hải đảo hoặc những nơi khó khăn, song không có nghĩa thực hiện chính sách dân tộc là ban ơn cho đồng bào dân tộc thiểu số, mà là, bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ. Bởi vậy, chủ trương: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nội dung cốt lõi của tư duy mới của Đảng về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc.

Thứ tư, thực hiện chính sách dân tộc phải gắn với việc thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo pháp luật. Trên thực tế, vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền luôn là vấn đề nhạy cảm. Các thế lực thù địch của cách mạng luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo và nhân quyền để kích động, chia rẽ nhân dân, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo, làm phương hại lợi ích chung của đất nước. Bởi vậy, thực hiện tốt chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo chính là góp phần khắc phục sự kỳ thị, chia rẽ các dân tộc, các tôn giáo; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc, mặc cảm tôn giáo, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc hướng tới thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Thứ năm, đổi mới và thực hiện tốt chính sách dân tộc nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là sự nghiệp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Việc mở rộng và phát huy dân chủ là đòi hỏi khách quan.

Xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết là sự nghiệp của toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị mà hạt nhân là các tổ chức đảng, được thực hiện bằng nhiều biện pháp, hình thức, trong đó các chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Việc tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách dân tộc nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc đòi hỏi phải mở rộng và phát huy hơn nữa dân chủ (dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp và chế độ tự quản của cộng đồng dân cư), đồng thời phải giữ vững kỷ cương xã hội và đạo lý dân tộc.

Tóm lại, nhận thức về vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc của Đảng ta là một quá trình, song việc khẳng định vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc là nhất quán. Tùy theo điều kiện, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, nội dung chính sách dân tộc có những điều chỉnh nhất định. Điều đó phản ánh tư duy biện chứng của Đảng ta. Sau 20 năm đổi mới, trên cơ sở tổng kết thực tiễn, đến nay tư duy mới của Đảng ta về vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc và đoàn kết dân tộc là: Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

GS.TS Dương Xuân Ngọc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,259,558


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs