Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Người nặng lòng với cồng chiềng Tây Nguyên

 18/05/2006

Tôi gọi anh như thế chỉ bởi một lẽ đơn giản: Không thể coi anh đơn thuần là một người làm nghề đúc đồng, chuyên chế tạo cồng chiêng của các dân tộc sinh sống dọc dãy Trường Sơn hùng vĩ. Mà hơn thế, anh đã mang cả tâm hồn, tình cảm của mình chuyển qua đôi tay tài hoa để làm nên những bộ cồng chiêng đạt đến độ hoàn mỹ, được đồng bào chấp nhận. Ở Phước Kiểu (Điện Phương, Điện Bàn, Quảng Nam), người ta thân mật gọi anh là “gã lang thang của đại ngàn”, tên anh là Dương Quốc Thuần.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống làm nghề đúc đồng ở làng Phước Kiều, Dương Quốc Thuần thừa hưởng kinh nghiệm từ người cha-một nghệ nhân của làng nghề đúc đồng. Trong lúc làng nghề có lịch sử hơn 400 năm đang có nguy cơ suy thoái, để duy trì nghề của cha ông anh cũng chỉ đúc những vật dụng đơn giản, theo thị hiếu người tiêu dùng như: bình, lư thờ, tượng, tranh... Từ câu chuyện của người cha, anh biết để đúc được những vật dụng đòi hỏi kỹ thuật cao như cồng chiêng ở làng nghề hiện còn 3 nghệ nhân lớn tuổi. Lớp trẻ thì không muốn học nghề đúc cồng chiêng, nên nguy cơ thất truyền đã thấy rõ. Một lần, anh theo cha vào xem hội của đồng bào Cơ-tu ở vùng núi phía tây Quảng Nam, nhận thấy nhu cầu sử dụng cồng chiêng của đồng bào là rất lớn, trong khi số cồng chiêng còn giữ được không nhiều. Anh quyết tâm học những kỹ thuật đúc cồng chiêng gia truyền. Sẵn có tâm hồn và khả năng cảm thụ âm nhạc đặc biệt, anh đã nhanh chóng nắm bắt được những kỹ thuật đúc cồng chiêng tinh vi nhất. Năm 26 tuổi Thuần đã đúc thành công bộ cồng chiêng Cơ-tu. Thành công đầu tiên ấy là niềm vui khôn xiết thôi thúc anh vừa học hỏi, vừa thử nghiệm cho ra đời nhiều loại cồng chiêng của các dân tộc vùng đông Trường Sơn như Chiêng đôi của người Kor, bộ chiêng Băhnar, Êđê, Gia rai, Mnông... được đồng bào chấp nhận và đánh giá là không thua kém cồng chiêng truyền thống về nhạc điệu, độ vang, độ ngân... Đỉnh cao trong việc đánh giá tay nghề của Thuần là việc anh cho ra đời dàn chiêng 18 chiếc theo yêu cầu của một du khách Pháp. Người khách đã không ngần ngại trả ngay 20 triệu đồng để mang bộ chiêng ấy về trưng bày trong một bảo tàng ở St Etient (Pháp). Từ đấy, tiếng tăm làng đúc đồng Phước Kiều và nghệ nhân Dương Quốc Thuần được nhiều nơi biết đến. Nhiều người làm công tác văn hoá, nhiều buôn làng ở các tỉnh Kon Tum, Đăk Nông, Gia Lai... tìm đến Phước Kiều đặt Thuần làm cồng chiêng của dân tộc mình. Anh Thuần tâm sự: “Mình làm cồng chiêng bằng sự cố gắng tự học hỏi, bằng cái tâm đối với một linh khí của đồng bào dân tộc. Đến nay, không dám nói là giỏi nhưng đúc một bộ cồng chiêng mà được bà con chấp nhận đã là thành công rồi”. Theo anh, để đúc một bộ cồng chiêng không khó, việc khó nhất là căn chỉnh, phân biệt được từng âm điệu trong tiếng cồng chiêng, chiếc nào cần thanh, chiếc nào trầm, chiếc nào vang đòi hỏi người làm phải có đôi tai cảm nhận đặc biệt... hiệu chỉnh phải đúng yêu cầu, đặc tính phù hợp: những âm thanh sôi động của nhịp chiêng Êđê, sâu lắng mà trữ tình của tiếng chiêng Băhnar, Gia rai, ung dung, khoan thai của tiếng chiêng Cơho... Những làng nghề đúc đồng, thậm chí rất nhiều buôn làng đồng bào không còn nhiều người có thể phân biệt và căn chỉnh được.

Việc UNESCO công nhận “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại” đã mở ra triển vọng phát triển cho các làng nghề đúc đồng để bảo tồn di sản văn hóa vật thể cồng chiêng. Dương Quốc Thuần cho rằng: “Đó là cơ hội và sự khuyến khích có thể kéo những nghệ nhân đúc đồng quay lại đầu tư trí lực vào chế tác cồng chiêng. Ngoài ra, hi vọng khi nhu cầu sử dụng tăng lên, các làng nghề sẽ đào tạo được những nghệ nhân kế cận. Với tôi, tôi sẵn sàng nhận truyền nghề cho bất kỳ ai có nhu cầu. Tôi cho rằng, bảo tồn và phát triển các làng nghề đúc cồng chiêng cũng là một khía cạnh trong việc bảo tồn và phát huy không gian văn hoá cồng chiêng.

Bài và ảnh: Sơn Tùng

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Giới thiệu sách gia đình và hôn nhân của dân tộc Mường ở tỉnh Phú Thọ (05/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,277,749


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs