Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/05/2006
Đề cồng chiêng Tây Nguyên không chỉ là di sản


Đội cồng chiêng của dân tộc Ê đê

Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại. Tin vui đó thêm một lần nữa khẳng định những giá trị văn hoá vô giá của dân tộc Việt Nam nói chung và của cộng đồng các dân tộc Tây Nguyên nói riêng. Vinh dự, tự hào và trách nhiệm của chúng ta trong việc “đối xử- ứng xử” với di sản văn hoá đó thế nào đang là vấn đề được dư luận xã hội rất quan tâm.

Trong buổi lễ công bố quyết định của tổ chức UNESCO và trao bằng công nhận “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại” vừa qua tại Thành phố Pleiku (Gia Lai) cho các chủ nhân của văn hoá cồng chiêng, không khí tưng bừng của ngày hội diễn ra trong một không gian hẹp của “sân vận động bóng đá”. Tại cây nêu trung tâm một vòng xoang lớn với 200 nghệ nhân, dập dìu, nhún nhảy bước chân trong nền nhạc của bài chiêng GiaRai “Mừng chiến thắng” và sau đó 11 đội cồng chiêng của các dân tộc: BaNah, Ê Đê, Gia Rai, CơHo, ChuRu, M’Nông, Mạ, Giẻ Triêng, XơĐăng, Brâu và RơMăm đã diễn tấu các tiết mục cồng chiêng quanh 11 cây nêu mang đậm sắc thái văn hoá của dân tộc mình. Tiếng cồng chiêng như nối dài sự sống của thế giới hôm qua với thế giới hôm nay và với cả thế giới của ngày mai. Sự hoành tráng của đêm hội với bản đại hợp xướng cồng chiêng của 11 đội nghệ nhân, 11 dân tộc bản địa đại diện cho 5 tỉnh Tây Nguyên: Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắk, Đắc Nông và Lâm Đồng đã để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đến dự đêm hội. Tuy nhiên, không biết có phải do vô tình hay vì thời gian eo hẹp mà đạo diễn chương trình đã “ôm đồm” để cùng một thời điểm, đồng loạt 11 dân tộc cùng hoà tấu cồng chiêng. Trong phức thể âm thanh ấy làm sao người xem, người nghe cảm thụ được “giá trị di sản văn hoá cồng chiêng”, làm sao cảm nhận được hồn cốt văn hoá của từng dân tộc bản địa trên dãy Trường Sơn-Tây Nguyên. Văn hoá làm nên sức sống trường tồn cho dân tộc nhưng cách diễn xướng như vậy đã làm giảm đi giá trị của văn hoá. Cồng chiêng Tây Nguyên được công nhận là “kiệt tác, di sản” bởi cồng chiêng gắn liền với “vòng đời, vòng cây” và “vòng đời, vòng cây” ấy được nối dài theo tiếng chiêng. ở Tây Nguyên, khi đứa trẻ sinh ra được già làng gióng lên 3 hồi chiêng theo nhịp xung trận nếu là bé trai, theo nhịp mùa gặt nếu là bé gái. Hồi chiêng đó đồng bào gọi là chiêng thổi tai bởi đồng bào quan niệm đứa trẻ sinh ra vốn là tặng vật của trời đất nên tai còn ù đặc, để cho đứa trẻ trở thành người của buôn làng, của dân tộc mình thì phải thổi tai cho thông suốt và việc đó chỉ có Thần Chiêng (Yang chêng) làm được. Khi đưa con người về thế giới bên kia cồng chiêng lại được gióng lên tiễn đưa người đến huyệt mộ. Đối với vòng cây, chiêng được gióng lên trong ngày lễ chọn đất phát nương rẫy, lễ chọc tỉa và khi được thu hoạch chiêng được gióng lên trong lễ đóng cửa kho lúa, lễ mừng lúa mới… Trong văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên mỗi dân tộc có một “phong cách chiêng” riêng. Chiêng Ê Đê một bộ có 9 chiếc, khi tấu có nhịp điệu phức hợp, tốc độ nhanh, cường độ lớn; chiêng M’Nông tốc độ khá nhanh nhưng giàu chất tự sự; dàn cồng chiêng BaNah và GiaRai có 12-18 chiếc, phong cách tấu thiên về chất chủ điệu của âm nhạc với một bè trầm của những cái cồng có núm và trên bè trầm là giai điệu thánh thót của những cái chiêng không có núm. Giữa 2 bè đó có tiếng trống cầm chịch và âm thanh vui vẻ, rạn vỡ của những chiếc chũm chọe. Chiêng Tha của dân tộc Brâu một bộ 2 chiếc phải hoà tấu với đàn T’Rưng mới nói hết được tâm sự của người BRâu. Chiêng của người Giẻ Triêng một bộ có 3 chiếc, còn dàn chiêng của người XơĐăng có 8 chiếc và mỗi dàn chiêng của mỗi dân tộc có cách diễn tấu, phong cách riêng. Trong cùng một dân tộc cách diễn tấu cũng khác nhau, phong cách diễn của M’Nông Gar cũng khác với phong cách của M’Nông Noong; cồng chiêng GiaRai A YunPa khác với phong cách cồng chiêng ChưPă; cồng chiêng BaNah TơLô diễn khác cồng chiêng Kon K’Đeh. Trong không gian hẹp của văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đã có sự khác nhau về phong cách diễn tấu giữa các vùng cư trú. ở không gian rộng hơn - đất nước Việt Nam cũng có rất nhiều dân tộc dùng cồng chiêng. Người Kinh dùng một cái cồng (âm tính) và một cái trống (dương tính) trong tế lễ ở đình làng, người Thái dùng 2-3 chiếc cồng để diễn tấu khi múa Xoè, người Mường có một dàn cồng chiêng 9-15 chiếc trong lễ hội Xắc bùa nhưng không ở đâu cồng chiêng lại quán xuyến mọi việc liên quan đến cuộc sống con người và đạt đến trình độ nghệ thuật âm nhạc cao như cồng chiêng Tây Nguyên. Không giống như những dàn nhạc đòi hỏi phải có nhạc trưởng, dàn cồng chiêng của đồng bào dân tộc Tây Nguyên không có nhạc trưởng nhưng khi diễn tấu mỗi thành viên trong dàn nhạc cồng chiêng phối nhạc với nhau rất khớp để tạo ra tiết tấu, nhịp điệu đầy đặn cho bài chiêng, điều đó khẳng định sự tinh tế của họ trong cảm nhận âm thanh, âm nhạc. Sự thành công của mỗi lễ hội cồng chiêng luôn gắn liền với những “báu vật sống” - đó là các nghệ nhân. Mỗi làng (Plei), mỗi buôn (bon) hoặc mỗi vùng cư trú đều có các nghệ nhân dù số người này không nhiều nhưng họ có khả năng, trình độ thẩm âm để chỉnh cồng chiêng sao cho “tiếng chiêng gióng lên đẹp, khoẻ, nói được tâm sự của người đang sống với tổ tiên, với thần linh”. Ngoài các nghệ nhân có khả năng thẩm âm, chỉnh chiêng giỏi còn có các nghệ nhân biết tiết tấu, thuộc các bài chiêng bởi giữa các bài chiêng nếu không có hoặc không am hiểu âm nhạc cồng chiêng Tây Nguyên thì người nghe khó phân biệt được trong âm thanh phức hợp cồng chiêng ấy đâu là bài chiêng “ Mừng chiến thắng”, đâu là bài “Mừng lúa mới” hay bài “Lên nhà Rông”… Mỗi bài chiêng có nhịp điệu tiết tấu nói lên tâm sự, khát vọng khác nhau của con người với cuộc sống. Các bài chiêng trong lễ cúng bến nước, lễ đâm trâu hay lễ P’Thi đều có sự khác nhau. Những “báu vật sống”- nghệ nhân đã bền bỉ truyền dạy cho con cháu từ thế hệ này qua thế hệ khác kinh nghiệm, kỹ thuật chỉnh chiêng và những bài chiêng truyền thống nhưng không phải ai cũng có thể học được. Số người học được ngoài niềm say mê vốn quí văn hoá truyền thống họ còn có những phẩm chất, khả năng đặc biệt mà ta thường gọi là “ thiên bẩm”. 

Nghệ thuật âm nhạc cồng chiêng trở thành nét nổi bật của vùng văn hoá Tây Nguyên. Vui hơn, tự hào hơn không chỉ đến riêng với đồng bào Tây Nguyên mà đến với đồng bào cả nước khi tổ chức UNESCO quyết định công nhận “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”. Một vấn đề lớn đặt ra cho những nhà quản lý văn hoá, nghiên cứu văn hoá và toàn xã hội là làm gì để bảo tồn và phát huy giá trị của “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”. Tại lễ công bố quyết định và trao bằng công nhận của tổ chức UNESCO, Bộ Văn hoá - Thông tin đã xác định chương trình hành động quốc gia để bảo tồn và phát huy giá trị của “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên” với những nhiệm vụ rất cụ thể như: Tiếp tục công việc sưu tầm, ghi chép những bài chiêng, những sinh hoạt văn hoá, âm nhạc, kỹ năng chỉnh chiêng, trình diễn chiêng của các nghệ nhân, các tài liệu về cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên để lưu giữ, phục vụ cho công tác nghiên cứu, bảo tồn và phát huy. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, tập hợp các nguồn tài liệu đã được nghiên cứu và công bố từ trước đến nay cả ở trong nước và ngoài nước liên quan đến cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Phục hồi và giữ gìn các sinh hoạt văn hoá, các lễ hội, môi trường diễn xướng gắn với cồng chiêng Tây Nguyên. Tổ chức biểu diễn, giới thiệu rộng rãi trong các cộng đồng dân cư, trên các phương tiện thông tin đại chúng, tạo điều kiện thuận lợi để các cộng đồng dân cư khôi phục các sinh hoạt văn hoá, tín ngưỡng lễ hội gắn với cồng chiêng theo truyền thống của mình, có sự tham gia hướng dẫn và hợp tác chặt chẽ của các cơ quan quản lí nhà nước về văn hoá, nghệ thuật. Tổ chức nghiên cứu khoa học về cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên một cách hệ thống và toàn diện ở 5 tỉnh Tây Nguyên và vùng phụ cận. Xây dựng các phòng lưu trữ di sản văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên đặt tại Trung tâm Dữ liệu Di sản văn hoá thuộc Viện Văn hoá - Thông tin và tại Bảo tàng các tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắc Lắc, Đắc Nông, Lâm Đồng, nhằm cất giữ các tài liệu, hồ sơ, băng ghi âm, ghi hình, ảnh tài liệu, ảnh hiện trạng, v.v… liên quan đến cồng chiêng và văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Tập hợp đội ngũ các nhà nghiên cứu có chuyên môn về âm nhạc truyền thống, về văn hoá và lịch sử Tây Nguyên. Quan tâm đào tạo đội ngũ các nhà nghiên cứu có trình độ chuyên môn, nhất là các nhà nghiên cứu là người các dân tộc Tây Nguyên nhằm thực hiện các đề tài nghiên cứu về âm nhạc truyền thống, văn hoá, lịch sử Tây Nguyên. Mở các lớp truyền dạy kinh nghiệm đánh chiêng, chỉnh chiêng cho thanh thiếu niên, tạo cơ hội cho các nghệ nhân truyền nghề cho các thế hệ kế tiếp kể cả về phương pháp, kiến thức, kinh nghiệm. Thành lập các khoa hoặc các bộ môn đào tạo trong các trường nghệ thuật tại các tỉnh Tây Nguyên về cồng chiêng và không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên. Tổ chức việc biên soạn để sớm có giáo trình về cồng chiêng và không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên để giảng dạy trong các trường văn hoá, nghệ thuật. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền qua các phương tiện thông tin, phát thanh, truyền hình, tờ gấp, sách nghiên cứu, sách ảnh, đĩa CD, VCD, DVD, các Website, v.v. để giới thiệu với mọi người, nhất là khách du lịch trong và ngoài nước hiểu và yêu quý giá trị mang tầm nhân loại của “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”. Kêu gọi sự quan tâm nghiên cứu, giới thiệu, quảng bá; tranh thủ sự đầu tư, sự hỗ trợ của các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài cả về kinh phí, phương tiện, tư liệu, v.v. Chương trình hành động với những nhiệm vụ cụ thể ấy sẽ được triển khai ra sao nếu ngay từ bây giờ chúng ta không có thái độ ứng xử đúng mức với những “báu vật sống” về tinh thần (cấp bằng công nhận là nghệ nhân) và vật chất (phụ cấp kinh phí) hoặc có những “cú hích” về kinh tế như đầu tư cơ sở hạ tầng, khoanh vùng xây dựng bảo tồn không gian hẹp (buôn, làng…) để thông qua du lịch văn hoá mà bảo tồn, nuôi dưỡng và phát triển văn hoá truyền thống; xây dựng môi trường, không gian để nuôi dưỡng văn hoá truyền thống như: diễn xướng (kể, hát) sử thi, diễn tấu cồng chiêng và môi trường không gian ấy phải không “xa lạ” với bản sắc truyền thống của người Tây Nguyên, để cồng chiêng có không gian diễn xướng chứ không phải chỉ là di sản được lưu giữ chất đống trong kho, trong nhà Rông. Mặt khác, điều lo lắng đáng sợ hơn cả là các chủ nhân của cồng chiêng hôm nay đang có xu hướng quay lưng lại với báu vật truyền thống của ông cha để lại bởi sự lấn át của văn hoá hiện đại, nhạc cụ hiện đại, họ mặc cảm cho rằng: nhạc cụ của họ lạc hậu và trong nhịp sống hiện đại không có chỗ đứng cho nhịp điệu “cách quãng” của cồng chiêng. Sự trả giá đối với thái độ quay lưng lại với văn hoá truyền thống ông cha để lại của dân tộc đa số (dân tộc Kinh) đối với nghệ thuật Tuồng cổ, chèo Tầu, ca Trù và các nhạc cụ truyền thống những năm qua đã cho thấy rõ điều đó. Do vậy cần phải có những giải pháp thật cụ thể, cấp bách dù khó khăn phức tạp để bảo tồn, phát huy các giá trị của “Không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên”. Bên cạnh những thuận lợi to lớn từ sự công nhận của UNESCO và cộng đồng quốc tế, sự quan tâm đầu tư, chăm lo về mọi mặt của Đảng và Nhà nước, tình cảm yêu quý và trách nhiệm giữ gìn và phát huy giá trị không gian văn hoá cồng chiêng Tây Nguyên của nhân dân. Có như vậy, chúng ta mới giữ gìn và phát huy được giá trị vô cùng to lớn của kiệt tác cồng chiêng Tây Nguyên của dân tộc và nhân loại.

Lương Hùng

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,890,651


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs