Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/05/2006
Xác định đúng đối tượng để thực hiện hiệu quả chương trình 135 giai đoạn II (2006-2010)

Chương trình Phát triển kinh tế xã hội ở các xã đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, biên giới còn gọi là Chương trình 135 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 135 ngày 31 tháng 7 năm 1998) nhằm đẩy mạnh sự nghiệp giảm nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn trong 52 tỉnh trên toàn quốc. Chương trình 135 giai đoạn I bao gồm năm hợp phần: phát triển hạ tầng cơ sở, phát triển hạ tầng trung tâm cụm xã, định canh định cư, khuyến nông khuyến lâm và nâng cao năng lực cho cán bộ xã và thôn. Vốn đầu tư tập trung chủ yếu vào việc phát triển hạ tầng cơ sở cấp xã dựa trên nguyên tắc đơn giản và minh bạch số tiền phân bổ là 500 triệu đồng cho các xã mỗi năm.

Chương trình 135 thời gian đầu được triển khai thực hiện ở 1200 xã. Tính đến năm 2005, chương trình đã thực hiện trên tổng số 2410 xã. Việc phân tích các xã theo vùng cho thấy trên 50% số xã này nằm ở Tây Bắc và Đông Bắc. Đây là những khu vực gần như cứ hai người thì có một người sống trong cảnh nghèo đói. ở đồng bằng sông Hồng, một trong những vùng có điều kiện khá hơn, chỉ có 6 xã được lựa chọn trong giai đoạn I Chương trình 135. So danh sách các xã nằm trong Chương trình 135 với số liệu về khoảng cách nghèo cộng dồn ở cấp huyện (năm 1998) có thể thấy 76% các xã thuộc những huyện nghèo nhất. Từ phân tích như vậy chúng ta có thể thấy Chương trình 135 xác định đối tượng tương đối hợp lý từ góc độ nghèo đói và đã bao gồm các xã thuộc những vùng và huyện có tỷ lệ nghèo cao nhất.

So sánh các xã trong Chương trình 135 với các xã khác cho thấy nhìn chung các xã được lựa chọn tham gia Chương trình 135 có các điều kiện khó khăn hơn về mọi mặt. Khoảng cách trung bình giữa các xã tham gia Chương trình 135 tới thị trấn gần nhất xa gần gấp đôi so với các xã khác không thuộc Chương trình 135. Phần lớn những người tham gia là đồng bào dân tộc thiểu số sống nhờ vào nông nghiệp phụ thuộc vào thời tiết nhưng hầu như không được hỗ trợ về khuyến nông. Điều đó trái với đặc điểm chung của các xã ở Việt Nam.

Quá trình xác định các xã (cho Chương trình 135) và các hộ (cho Chương trình 143 về xoá đói giảm nghèo) dựa theo quy trình có sự tham gia từ cơ sở, gồm xã, huyện và tỉnh. Trên cơ sở những thông tin thu nhập được từ các xã, Ban xét duyệt Chương trình 135 cấp huyện sẽ lập một danh sách đưa lên tỉnh tập hợp và do Uỷ ban nhân dân tỉnh thông qua. Danh sách này được các chuyên gia của Uỷ ban Dân tộc và Miền núi nay là Uỷ ban Dân tộc thẩm tra trước khi hoàn tất. Người ta cũng tiến hành một quy trình tương tự để xác định các hộ nghèo cho chương trình xoá đói giảm nghèo. Sự khác biệt duy nhất là trưởng thôn đóng vai trò quan trọng trong việc lập danh sách các hộ nghèo ở cấp thôn và danh sách này sau đó sẽ được tập hợp lại ở cấp xã. Các nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình được công bố là nghèo và được liệt vào các danh sách này đều là những hộ nghèo nhất trong thôn ngay cả khi các tiêu chí về thu nhập do Bộ Lao động Thương binh và Xã hội đề ra không được áp dụng chặt chẽ trong quá trình xác định các hộ nghèo. Nói cách khác, các hộ không nghèo nhìn chung không được đưa vào danh sách. Điều đó cho thấy phương pháp xác định đối tượng có sự tham gia mặc dù mang tính chủ quan hơn nhưng lại xác định tương đối có hiệu quả các hộ nghèo và xã nghèo. Tuy nhiên, trong giai đoạn II Chương trình 135 chúng ta cần đảm bảo những dữ liệu có chất lượng và đáng tin cậy sẽ được sử dụng làm cơ sở để xác định các xã và thôn.

Chương trình 135 giai đoạn II được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt (Quyết định số 07/2006/QĐ-TTg tháng 1 năm 2006) để thực hiện trong giai đoạn 2006-2010. Giai đoạn II của Chương trình 135 có bốn hợp phần: phát triển hạ tầng cơ sở, hỗ trợ sản xuất và sinh kế, đẩy mạnh các dịch vụ cơ bản nhằm cải thiện đời sống và nâng cao năng lực. Chương trình có mục đích chuyển dịch trọng tâm sang đẩy mạnh sản xuất và sinh kế, mặc dù khoảng 70% vốn đầu tư sẽ tập trung vào phát triển hạ tầng cơ sở ở cấp xã và thôn. Chương trình đã được mở rộng ra các thôn nghèo nhất ở vùng 1 và vùng 2, cùng với các xã thuộc vùng 3.

Đối với giai đoạn I Chương trình 135, Thông tư 41/UB-TT ngày 8/1/1996 đã đưa ra những tiêu chí xác định xã mục tiêu. Các tiêu chí xác định các xã ở khu vực 3 là: vị trí ở vùng sâu, vùng xa; cơ sở hạ tầng kém phát triển, không có đường ô tô đến trung tâm xã, thiếu nước sinh hoạt, trường học, trạm y tế và chợ); các chỉ số phát triển xã hội thấp (tỉ lệ mù chữ hơn 60%, nhận thức thấp, các dịch bệnh xảy ra thường xuyên); điều kiện sản xuất khó khăn (hầu hết các hộ gia đình dựa vào du canh) và mức nghèo vượt quá 60%.

Đối với giai đoạn II Chương trình 135, việc lựa chọn các thôn và các xã dựa theo Quyết định 393 ban hành ngày 29/8/2005. Quyết định 393 đề ra một khuôn khổ đa diện bao gồm các công cụ kinh tế - xã hội mang tính định tính và định lượng, sinh kế và cơ sở hạ tầng nhằm xác định các xã/thôn ở cả ba vùng. Ví dụ: Tiêu chí xác định thôn khó khăn được xác định có hơn 70% hộ nghèo; hơn 25% hộ có nhà tạm bợ; hơn 10% tham gia du canh du cư; hơn 50% thiếu nước sạch và điện; hơn 20% thiếu đất sản xuất; hơn 50% sản xuất nông nghiệp theo mùa mưa và không có dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm; không có đủ lớp học hoặc xây dựng tạm thời; không có hệ thống truyền thanh từ xã tới thôn và không có nhà văn hoá thôn.

Nhìn chung, so với các tiêu chí áp dụng cho giai đoạn I Chương trình 135, Quyết định 393 mang tính toàn diện hơn và đã nêu một số tiêu chí phát triển trong khuôn khổ chung để xác định các thôn/xã. Tuy nhiên, một số tiêu chí áp dụng trong giai đoạn II vẫn còn chung chung và thiếu giới hạn. Các tiêu chí này cần được xác định cụ thể hơn và dữ liệu cơ sở cần được xây dựng. Chẳng hạn, việc có bằng cấp chính trị của các cán bộ đã được nêu ra. Nhưng tiêu chí này cũng cần bao gồm việc đào tạo trong Chương trình 135 liên quan đến lĩnh vực giám sát và quản lí tài chính. Tương tự, cũng cần xác định tốt hơn một số tiêu chí liên quan đến sản xuất để xác định các xã như không có hoạt động nông nghiệp hướng về thị trường hoặc cần có cơ sở dữ liệu đáng tin cậy cho cơ sở hạ tầng và kinh tế cụ thể như có hơn 55% số hộ nghèo; thiếu 6/10 hạ tầng cơ sở thiết yếu; 3/4 nhân tố xã hội: chưa hoàn thành trung học cơ sở phổ cập; không có trạm y tế thôn ở 50% số thôn; 50% cán bộ không được đào tạo; 50% số hộ không được hưởng lợi từ hệ thống thông tin đại chúng.

Quyết định 393 cần được hỗ trợ thêm bằng một số cơ chế giám sát và đánh giá đáng tin cậy và thực tế. Cơ chế này cần được xây dựng trên cơ sở các tiêu chí được sử dụng để xác định các thôn/xã. Cơ sở dữ liệu cấp xã cần được xây dựng và củng cố với cơ chế định sẵn để cập nhật thường xuyên. Điều này sẽ giúp Uỷ ban Dân tộc theo dõi những tiến bộ đối với các mục đích và mục tiêu của Chương trình 135.

Quy trình xác định các thôn/xã trong giai đoạn II Chương trình 135 đã có cải thiện hơn so với giai đoạn I. Quy trình này tiếp tục dựa theo cách tiếp cận có sự tham gia từ dưới lên và có đủ cơ chế kiểm soát và kiểm tra trong quy trình. Cơ chế phê duyệt cấp quốc gia mang tính toàn diện. Hội đồng xét duyệt cấp Trung ương đã được thành lập có sự tham gia của tất cả các Bộ có liên quan và Hội đồng Dân tộc của Quốc hội.
Tuy đã đề ra các tiêu chí xác định có cụ thểhơn so với tiêu chí xác định các xã ở giai đoạn I (1999-2005) nhưng phương tiện để xác định đối tượng ở giai đoạn II vẫn còn một số hạn chế.

Bảng thống kê dự thảo chính sách và cải cách thể chế cho Chương trình 135 giai đoạn II đã nêu đề xuất xác định các thôn/xã trên cơ sở số liệu về tổng khoảng cách nghèo cộng dồn hoặc các chỉ số tương tự trong cuộc Điều tra Dân số Nông nghiệp. Các phân tích cho thấy đề xuất này có thể không khả thi vì số liệu về tổng khoảng cách nghèo cộng dồn hiện có của Ngân hàng Thế giới sử dụng dữ liệu Điều tra dân số 1999 và cuộc Điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam 1998 đã cũ. Ngoài ra, số liệu về tổng khoảng cách nghèo cộng dồn không áp dụng cho cấp các thôn/xã vì mức độ sai số quá lớn (15%). Các con số ước tính mới về tổng khoảng cách nghèo cộng dồn dựa theo cuộc điều tra dân số nông nghiệp phải đến giữa năm 2007 mới có thể có. Tuy nhiên, ngay cả khi đó số liệu về tổng khoảng cách nghèo cộng dồn dành cho cấp xã có thể sẽ vẫn là một thách thức. Có thể sẽ khả thi hơn nếu sử dụng số liệu về khoảng cách nghèo cộng dồn để kiểm tra chéo và thẩm định mức độ hiệu quả của việc xác định đối tượng trong giai đoạn II Chương trình 135.

Trên cơ sở phân tích như trên, để có thể tiến hành lựa chọn đối tượng tốt trong giai đoạn II Chương trình 135, Chính phủ và các nhà tài trợ nên cân nhắc một số điểm sau:

1. Điều chỉnh hơn nữa các tiêu chí nêu trong Quyết định 393 hiện nay nhằm xác định các thôn/xã. Cụ thể là các tiêu chí liên quan đến phát triển sản xuất, đào tạo cán bộ và xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội cho cả ba vùng.

2. Xây dựng cơ chế giám sát và đánh giá đáng tin cậy và có ý nghĩa dựa trên cơ sở dữ liệu cấp xã, cho phép Chính phủ theo dõi các tiến bộ đạt được ở cấp thôn/xã.
3. Quy trình xác định các thôn/xã có sự tham gia từ dưới lên cần được củng cố hơn nữa và dựa trên cơ sở dữ liệu đáng tin cậy để đảm bảo việc xác định các hộ gia đình và xã một cách có hiệu quả.

4. Dữ liệu tổng khoảng cách nghèo cộng dồn cần được sử dụng để thẩm tra và kiểm tra mức độ hiệu quả của hệ thống hiện nay.

Mặc dù Chương trình 135 là một chương trình được xác định đối tượng tương đối tốt, song vẫn cần điều chỉnh hơn nữa các tiêu chí và quy trình trong quá trình xác định các xã và thôn khó khăn. Chương trình này cần xây dựng, củng cố và thường xuyên cập nhật cơ sở dữ liệu cấp xã. Điều đó sẽ đảm bảo việc xác định đối tượng được dựa trên dữ liệu chất lượng tốt và đáng tin cậy. Ngoài ra, chương trình cần củng cố quy trình có sự tham gia từ dưới lên để giúp tạo quyền cho người dân. Thử thách trong tương lai sẽ là sử dụng khuôn khổ đa diện hiện có làm cơ sở thực hiện một chương trình năng động hơn và xác định đối tượng tốt hơn trong 5 năm tới.

Gita Sabharwal và
Thân Thị Thiên Hương

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 64,294,280


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs