Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/05/2006
Ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận triển khai thực hiện tốt chính sách dân tộc


Hội thi làm gốm mỹ nghệ và gốm truyền thống của đồng bào Chăm

Bình Thuận là tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ có 26 dân tộc thiểu số, định cư sinh sống ở 42/71 xã, phường, thị trấn, miền núi, vùng cao thuộc 8/9 huyện, thị, thành phố của tỉnh, với dân số trên 77 nghìn người (chiếm tỷ lệ 7% dân số toàn tỉnh). Các dân tộc thiểu số có quy mô dân số không đều nhau và không nhiều, nhưng cư trú ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh. Mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hoá, phong tục tập quán và phương thức sản xuất riêng nhưng phần lớn xuất phát từ nền kinh tế tự cấp, tự túc, phương thức canh tác lạc hậu, trình độ dân trí thấp, cơ sở hạ tầng yếu kém.

Mặt khác, điều kiện tự nhiên khắc nghiệt như nắng, gió, khô hạn và đất canh tác dốc, bạc màu nên đời sống kinh tế vùng đồng bào còn gặp nhiều khó khăn.

Từ khi có Nghị quyết 22-NQ/TW của Bộ Chính trị, Quyết định 72-QĐ/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), nhất là sau 13 năm (1992-2006) kể từ ngày chia tách tỉnh (Thuận Hải cũ), Đảng bộ, chính quyền các cấp, các ngành tỉnh Bình Thuận xác định công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn mới. Trong những năm qua, cùng với việc thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, Bình Thuận đã có những chủ trương cụ thể và ban hành nhiều chính sách phát triển kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đặc biệt, kể từ khi Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành Quyết định số 1140, ngày 24/9/1993 về việc thành lập Ban Dân tộc - Miền núi (nay là Ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận). Đây là cơ quan chuyên ngành trực thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh có chức năng: Trực tiếp tham mưu cho Tỉnh uỷ cụ thể hoá các Nghị quyết, chính sách của Đảng, đồng thời làm nhiệm vụ giúp Uỷ ban nhân dân tỉnh quản lí Nhà nước về công tác dân tộc và thực hiện các chính sách dân tộc, đồng thời tổ chức, kiểm tra, giám sát việc triển khai, thực hiện chủ trương, chính sách đầu tư, phát triển đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ được giao, Ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận xác định công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc không những là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị mà trước hết là trách nhiệm của cơ quan chuyên ngành đó là Ban Dân tộc.

Để cụ thể hoá các nhiệm vụ được giao, Ban Dân tộc tích cực tập trung làm tốt công tác tham mưu, quản lí, chỉ đạo, điều hành việc triển khai và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; luôn bám sát các nhiệm vụ trọng tâm, quán triệt đầy đủ các Chỉ thị, Nghị quyết của Trung ương Đảng, các Quyết định, Nghị định của Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, để từ đó vận dụng, xây dựng, triển khai và đề ra chương trình hành động cụ thể. Với những nỗ lực trên, đến nay Ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận đã tổ chức xây dựng và triển khai được 24 dự án định canh định cư, 6 dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào Chăm, 10 dự án trung tâm cụm xã miền núi - vùng cao giai đoạn 1992-2000, 6 dự án trung tâm cụm xã - miền núi giai đoạn 2001-2005, 28 dự án chương trình 135. Các chương trình, dự án ra đời kịp thời, đúng lúc, được thực hiện có hiệu quả đã đáp ứng được sự mong đợi của đồng bào các dân tộc; chính vì vậy mà tạo được sự đồng tình hưởng ứng và tích cực tham gia thực hiện của các ngành, các cấp và nhân dân.

Xuất phát từ tình hình thực tế của từng địa phương, Ban Dân tộc đã trực tiếp tham mưu cho Tỉnh uỷ ban hành các chính sách phát triển kinh tế, xã hội nhằm nâng cao đời sống cho đồng bào. Tại Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Tỉnh Đảng bộ (Khoá X) đã đề ra Nghị quyết số 04-NQ/TƯ ngày 27/5/2002 về “xây dựng và phát triển toàn diện dân sinh kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số”; Nghị quyết 05-NQ/TƯ về “xây dựng, đào tạo đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số và huyện Phú Quý”. Ban Dân tộc với vị trí là cơ quan thường trực đã tập trung xây dựng chương trình hành động để cụ thể hoá các Chỉ thị, Nghị quyết của Tỉnh uỷ. Đồng thời chủ động phối hợp các sở, ngành liên quan tham mưu, đề xuất Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành và sửa đổi, bổ sung các quyết định: Quyết định 502 (nay là QĐ 75) thực hiện chế độ trợ cấp đối với học sinh, sinh viên dân tộc thiểu số đang theo học tại các trường Đại học, cao đẳng trong và ngoài tỉnh; Quyết định 64 (nay là 84) thực hiện chế độ trợ cấp đối với học sinh dân tộc thiểu số các thôn xã miền núi, vùng cao; Quyết định 61 quy định thực hiện chính sách trợ giá, trợ cước vận chuyển hàng hoá phục vụ miền núi, hải đảo và vùng đồng bào dân tộc. Đặc biệt, để cải thiện nâng cao đời sống cho đồng bào, thúc đẩy sản xuất phát triển, tránh tình trạng tư thương ép cấp, ép giá, vay nặng lãi và bán rẻ sản phẩm, Ban Dân tộc đã tham mưu Uỷ ban nhân dân tỉnh thành lập Trung tâm dịch vụ phát triển thương mại miền núi, với nhiệm vụ phục vụ các mặt hàng chính sách, hàng hoá vật tư sản xuất và đời sống, tổ chức đầu tư ứng trước và bao tiêu sản phẩm nông - lâm sản cho đồng bào ở 11 xã vùng cao và 20 thôn xen ghép. Để phát triển toàn diện dân sinh kinh tế, xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, với mục tiêu của tỉnh tập trung giải quyết đất sản xuất cho đồng bào và bảo đảm cho mỗi hộ tối thiểu 2 ha/hộ đối với dân tộc vùng cao, 1,5 ha/hộ đối với đồng bào Chăm, đồng thời hỗ trợ 1-3 triệu đồng/ha để các hộ tự tổ chức khai hoang đất sản xuất; hỗ trợ vay vốn phát triển chăn nuôi bình quân 2 con bò/hộ; giao khoán quản lí bảo vệ rừng… Kết quả đến nay, đã cấp đất sản xuất được: 4.995 ha/3.750 hộ; giao khoán rừng cho hộ đồng bào quản lí bảo vệ: 88,88 ha/2.447 hộ; cùng với Ngân hàng Chính sách xã hội giải ngân 17,5 tỷ đồng cho 2.432 hộ vay 3.626 con bò nái sinh sản với giá trị trên 17 tỷ đồng; tỉ lệ hộ nghèo hiện nay còn dưới 20%, đối với 4 xã vùng Chăm dưới 10% (theo tiêu chí cũ); có 95% hộ được dùng điện sinh hoạt, có trên 50% số hộ dùng nước hợp vệ sinh (chỉ tiêu 80% số hộ); 4 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế (chỉ tiêu là từ 1 đến 2 xã); tỉ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em còn 37,6% (chỉ tiêu là dưới 30%); 100% xã có đủ các loại hình trường lớp, có 15/15 xã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học, xoá mù chữ; 2 xã bằng 13% (chỉ tiêu 20%) đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi.

Để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở theo tinh thần Nghị quyết 05 của Tỉnh uỷ, Ban Dân tộc đã trực tiếp chủ trì, phối hợp các sở, ngành liên quan, Uỷ ban nhân dân các huyện, xã, đặc biệt là trường Phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, trường Chính trị tổ chức chiêu sinh, quản lí và theo dõi lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Qua 3 năm triển khai thực hiện, có 191 em của 10 dân tộc, thuộc 8/10 huyện, thị, thành phố của tỉnh tham gia học tập. Với 3 khoá tuyển sinh và đào tạo, đến nay có 96 em đã tốt nghiệp và đã được địa phương bố trí công tác ở 29 xã, thôn vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Các học viên, sau khi tốt nghiệp đã hoàn chỉnh trình độ văn hoá phổ thông trung học, trung cấp chính trị và được bồi dưỡng các chuyên đề về quản lí nhà nước.

Từ nhận thức rõ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác dân tộc và những nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong quá trình triển khai thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đến nay, đời sống vật chất, tinh thần đồng bào từng bước được ổn định. Sản xuất phát triển, đã chuyển một bước đáng kể từ tập quán sản xuất lạc hậu, độc canh tự cấp tự túc sang ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật thâm canh tăng vụ, đã có vùng hình thành chuyên canh cây trồng, vật nuôi theo hướng sản xuất hàng hoá. Cơ bản giải quyết vấn đề lương thực và hạn chế tình trạng đói giáp hạt. Cơ sở vật chất hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống đang từng bước được hoàn thiện, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho phát triển kinh tế - xã hội của các xã đặc biệt khó khăn. Do tác động từ các chính sách của Trung ương, của tỉnh, công tác giáo dục phát triển ngày càng tốt hơn ở cả 3 cấp học. Công tác chăm sóc sức khoẻ đồng bào được quan tâm hơn, các chương trình y tế quốc gia được triển khai sâu rộng, có 90% trạm y tế xã có bác sỹ, 100% xã có nữ hộ sinh. Công tác thông tin tuyên truyền được triển khai dưới nhiều hình thức đến nay đã có 100% xã có Trạm truyền thanh; 100% xã, 70% thôn có nhà văn hoá sinh hoạt cộng đồng. Lĩnh vực tôn giáo tín ngưỡng được tôn trọng, bản sắc văn hoá truyền thống tốt đẹp các dân tộc được gìn giữ, phát huy. Hệ thống chính trị cơ sở ngày càng được củng cố đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ mới. An ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Lòng tin của đồng bào đối với Đảng và Nhà nước được nâng lên.

Kết quả đạt được trong công tác dân tộc ở tỉnh Bình Thuận những năm qua cho thấy khi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước xuất phát từ lợi ích của dân đã mang lại hiệu quả thiết thực đối với đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Quá trình triển khai thực hiện được quan tâm chỉ đạo sâu sát của Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cơ quan ban ngành và chính quyền các cấp, đặc biệt là chính quyền cấp cơ sở.
Các chương trình, dự án có cùng mục tiêu được lồng ghép chặt chẽ và chỉ đạo quyết liệt và đồng bộ đem lại hiệu quả cao.

Mặt khác, bộ máy tổ chức luôn củng cố và ổn định từ cấp huyện đến tỉnh. Đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc luôn tâm huyết, nhiệt tình, sâu sát, đồng cảm, am hiểu phong tục, tập quán của đồng bào và có trình độ về chuyên môn, năng lực quản lí và tổ chức thực hiện.

Trong công tác tham mưu xây dựng, ban hành chính sách luôn xuất phát từ thực tiễn cuộc sống đặt ra, đồng thời bám sát các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước để cụ thể hoá bằng các chương trình, kế hoạch đồng bộ trong triển khai thực hiện. Quá trình thực hiện luôn thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, kịp thời phát hiện những nhân tố mới, những kinh nghiệm hay, điển hình tiên tiến để nhân rộng nhằm phát huy mọi khả năng và tăng cường tính hiệu quả của các chương trình, dự án.

Đoàn Văn Sáu
Trưởng ban Dân tộc tỉnh Bình Thuận

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,475,510


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs