Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 04/05/2006
Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng, bảo đảm cho người làm rừng có cuộc sống ổn định

Rừng là tài nguyên quý giá của đất nước, có ý nghĩa to lớn về kinh tế, quốc phòng, an ninh, phòng hộ, môi trường sinh thái… Đại hội toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX của Đảng đã đề ra chủ trương khoanh nuôi, tái sinh, bảo vệ và phát triển rừng, nhằm tăng tốc độ phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ hệ sinh thái bền vững; thực hiện giao đất, giao rừng, tạo điều kiện cho miền núi phát huy thế mạnh về lâm nghiệp, ổn định và cải thiện đời sống của dân cư ở miền núi.
Qua nghiên cứu dự thảo văn kiện Đại hội và từ thực tế của tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi tán thành và đánh giá cao chủ trương phát triển lâm nghiệp nêu trong dự thảo văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ X của Đảng. “Thực hiện tốt chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới chính sách giao đất, giao rừng, bảo đảm cho người làm rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện. Nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu về nguyên liệu gỗ và chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu”.
Đây thực sự là chủ trương đổi mới của Đảng, xác định rõ hơn công tác bảo vệ và phát triển rừng có ý nghĩa to lớn về kinh tế và gắn với đời sống của con người làm rừng.
Rừng và đất rừng của nước ta phân bổ chủ yếu ở các tỉnh miền núi, nơi sinh sống của gần 25 triệu người, phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, phương thức canh tác lạc hậu, kinh tế chậm phát triển và đời sống còn nhiều khó khăn. Những năm qua, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; ban hành Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, nhiều chỉ thị, nghị quyết nhằm ngăn chặn tình trạng xâm hại, suy thoái rừng và đất rừng; đã dành nguồn ngân sách đáng kể của Nhà nước để đầu tư Chương trình 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng và các chương trình, đầu tư phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo ở địa bàn khó khăn, đặc biệt khó khăn. Có thể khẳng định Chương trình bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được kết quả quan trọng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, đến thời điểm hiện nay, cả nước có trên 12 triệu ha rừng, trong đó có 10 triệu ha rừng tự nhiên, còn lại là rừng trồng; độ che phủ rừng toàn quốc tăng từ 27,2% năm 1990 lên 36,7% năm 2004.
Trong nhiều năm qua, cùng với cả nước, tỉnh Tuyên Quang đã đặc biệt coi trọng công tác bảo vệ, phát triển rừng và từng bước quan tâm cải thiện đời sống của người làm rừng. Với 448.000 ha đất lâm nghiệp, chiếm 76% diện tích tự nhiên, hiện nay diện tích có rừng của tỉnh là 332.600 ha (rừng trồng là 72.000 ha), đạt độ che phủ 63%, là một trong những tỉnh có độ che phủ rừng cao nhất cả nước. Đó là nỗ lực rất lớn của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang. Vốn rừng hiện có là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến gỗ, sản xuất giấy, bột giấy, phát triển du lịch sinh thái, ngành nghề thủ công mỹ nghệ…, đó là một trong những yếu tố nền tảng để chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cải thiện đời sống của người làm rừng trên địa bàn tỉnh.
Tuy nhiên, qua thực tế của các tỉnh miền núi nói chung và tỉnh Tuyên Quang nói riêng, chúng tôi nhận thấy chương trình bảo vệ và phát triển rừng còn không ít hạn chế, khó khăn:
Rừng trồng chưa bảo đảm chất lượng, chưa đáp ứng được nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu; tính đa dạng sinh học của rừng tự nhiên tiếp tục suy giảm; tăng trưởng của ngành lâm nghiệp thấp và chưa bền vững; tiến độ giao đất, giao rừng chậm; tác động của kinh tế lâm nghiệp đối với chương trình xoá đói, giảm nghèo còn hạn chế, thu nhập của người làm rừng thấp và chưa ổn định, đa số người dân miền núi, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số ở gần rừng chưa thể sống được bằng nghề rừng. Trong khi đó trên thực tế đảm bảo cuộc sống cho người làm rừng, người sống gần rừng là một trong những yếu tố rất quan trọng để bảo vệ rừng, chống phá rừng.
Nguyên nhân của hạn chế, khó khăn nêu trên là do:
Nhận thức về lâm nghiệp của các ngành, các cấp chưa toàn diện, chủ yếu thiên về chức năng phòng hộ và môi trường sinh thái của rừng; chưa nhận thức rõ lâm nghiệp là một ngành kinh tế kỹ thuật có tính đặc thù, bao gồm các hoạt động tạo rừng, bảo vệ rừng, khai thác, chế biến lâm sản và cung cấp các dịch vụ từ rừng; do vậy chưa thực sự chú trọng đầu tư phát triển kinh tế lâm nghiệp.
Công tác quy hoạch, nhất là quy hoạch phân 3 loại rừng còn bất hợp lý và chưa xác định được ranh giới ngoài thực địa, chưa kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch, chiến lược phát triển lâm nghiệp với các ngành kinh tế khác; nguồn lực đầu tư mới chủ yếu dựa vào nguồn ngân sách Nhà nước, chưa khai thác, huy động được nguồn lực đầu tư của các thành phần kinh tế.
Phương thức quản lí, bảo vệ rừng hiện nay chưa tạo được động lực thúc đẩy các thành phần kinh tế, nhất là hộ gia đình, cộng đồng dân cư và tư nhân tham gia quản lí, bảo vệ và đầu tư phát triển, kinh doanh rừng.
Hệ thống chính sách lâm nghiệp thiếu đồng bộ, chưa phù hợp với chủ trương xã hội hoá nghề rừng và cơ chế thị trường, chậm điều chỉnh và chưa được tổ chức thực hiện tốt; khoa học công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp chưa giải quyết được những đòi hỏi cấp thiết từ sản xuất, kinh doanh nghề rừng.
Hệ thống tổ chức lâm nghiệp chậm đổi mới, năng lực và trình độ của đội ngũ cán bộ chưa đáp ứng được yêu cầu xã hội hoá lâm nghiệp và cơ chế thị trường hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ vai trò đa dạng và quan trọng của lâm nghiệp, để thực hiện có hiệu quả chương trình bảo vệ và phát triển rừng; đảm bảo cho người làm rừng có cuộc sống ổn định và được cải thiện; nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho công nghiệp chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu. Qua thực tiễn công tác bảo vệ và phát triển rừng của tỉnh Tuyên Quang, chúng tôi xin đề xuất và làm rõ thêm một số nội dung sau:
1. Cần có những quan điểm đúng đắn và phù hợp về bảo vệ và phát triển rừng.
Một là, bảo vệ và phát triển rừng phải bảo đảm hài hoà cả hai mục đích là phòng hộ, môi trường với tăng trưởng kinh tế, góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập để người làm rừng có cuộc sống ổn định, tiến tới có thể làm giàu từ nghề rừng.
Hai là, cơ bản chuyển hướng phát triển lâm nghiệp hiện nay theo hướng xã hội hoá nghề rừng, trong đó dân làm và dân hưởng lợi là chính, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng. Nhà nước chỉ tập trung quản lí một số diện tích rừng đặc dụng, rừng phòng hộ cực kỳ xung yếu.
Ba là, với chức năng phòng hộ, môi trường sinh thái, an ninh - quốc phòng, bảo vệ và phát triển rừng là lợi ích quốc gia, góp phần phát triển đất nước bền vững, do vậy phải có đầu tư thoả đáng từ nguồn ngân sách Nhà nước để hỗ trợ cho cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp làm rừng.
2. Xác định một số giải pháp chủ yếu nhằm đẩy mạnh công tác bảo vệ và phát triển rừng.
Một là, tăng cường tuyên truyền, giáo dục về vai trò, ích lợi của việc bảo vệ và phát triển rừng, về trách nhiệm của xã hội và công dân đối với sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng; đổi mới phương pháp, nội dung tuyên truyền (ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm) để nhân dân (trước hết là đồng bào dân tộc ít người) làm nghề rừng, sống gần rừng nắm được chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với việc bảo vệ và phát triển rừng. Từ đó khơi dậy tính cộng đồng, tinh thần tự giác, ý thức trách nhiệm bảo vệ và tích cực trồng rừng, thực sự coi trọng việc giữ rừng, phát triển rừng có ý nghĩa thiết thực, gắn liền với cuộc sống của chính họ. Đồng thời với việc làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, cần phát huy sức mạnh của toàn xã hội ngăn chặn tình trạng cháy rừng, xâm hại rừng và đất rừng; xử lý nghiêm minh các hành vi khai thác rừng trái phép, nhất là các vụ có tổ chức, xâm hại rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ xung yếu.
Hai là, cần đẩy nhanh tiến độ rà soát, quy hoạch cơ cấu 3 loại rừng trên bản đồ và cắm mốc ngoài thực địa. Với nhận thức đầy đủ và phù hợp với thực tiễn là: rừng sản xuất cũng có chức năng phòng hộ, rừng phòng hộ cũng được khai thác, sử dụng hợp lý cho mục đích sản xuất, kinh doanh, cụ thể, chúng tôi đề nghị: ổn định diện tích rừng đặc dụng hiện có, giảm diện tích rừng phòng hộ hợp lý, tăng nhanh diện tích rừng sản xuất, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh tế lâm nghiệp và bảo đảm nâng cao đời sống của người làm rừng; khuyến khích tất cả các thành phần kinh tế đầu tư xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung nhằm bảo đảm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và tăng hiệu quả sử dụng đất.
Ba là, tiếp tục đổi mới chính sách giao đất, giao rừng gắn với định canh, định cư, căn bản giải quyết đất ở, đất sản xuất (kể cả nương cố định) ổn định, lâu dài cho đồng bào các dân tộc thiểu số sống gần rừng. Đồng thời cần xác định rõ quyền sử dụng đất rừng, quyền sử dụng rừng và quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng để khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư bảo vệ, trồng rừng, khai thác, chế biến lâm sản và sử dụng rừng vào các mục đích sản xuất kinh doanh khác (kinh doanh cảnh quan, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái…). Đảm bảo tất cả rừng và đất lâm nghiệp phải được giao, cho thuê đến những chủ rừng thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó tổ chức Nhà nước đóng vai trò chủ đạo, nhất là đối với rừng đặc dụng và rừng phòng hộ có quy mô lớn. Khẩn trương rà soát diện tích đất lâm nghiệp của các lâm trường đang quản lí, nếu sử dụng không có hiệu quả, không đúng mục đích hoặc bị lấn chiếm thì giao lại cho các hộ gia đình quản lí, sản xuất, kinh doanh.
Bốn là, sớm đổi mới cơ chế, chính sách đầu tư bảo vệ và trồng rừng. Đổi mới mô hình quản lí rừng, chuyển hình thức khoán quản lí, bảo vệ rừng hiện tại (5 năm) sang hình thức khoán 50 năm và nâng mức khoán lên ít nhất 2 lần so với hiện nay (từ 50.000 đồng/ha lên ít nhất 100.000 đồng/ha); thay đổi phương thức đầu tư theo hướng đầu tư trực tiếp cho hộ gia đình, cá nhân trồng rừng kể cả rừng phòng hộ, Nhà nước hỗ trợ cây giống và một phần công lao động để người làm rừng tự tổ chức sản xuất; điều chỉnh hợp lý suất đầu tư trồng rừng (mức đầu tư từ 4-6 triệu đồng/ha như hiện nay là quá thấp). Các tổ chức tín dụng cho vay đủ vốn theo suất đầu tư trồng rừng sản xuất và thu nợ gốc, lãi theo chu kỳ kinh tế của cây rừng (hiện nay chỉ cho vay 70% suất đầu tư và thu lãi tiền vay theo rừng tháng trong khi chưa có sản phẩm thu hoạch từ rừng, rất khó khăn cho người làm rừng). Hỗ trợ kinh phí cho các hộ nghèo mua giống cây ăn quả, cây công nghiệp, con giống để tổ chức sản xuất, kinh doanh theo phương thức nông, lâm kết hợp (lấy ngắn nuôi dài) vì chu kỳ kinh tế của cây trồng từ 8 đến 10 năm, đồng bào dân tộc thiểu số ở gần rừng đời sống còn rất khó khăn, chưa có thu nhập khác đẻ nuôi sống gia đình khi rừng trồng chưa được thu hoạch.
Xây dựng Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng (huy động vốn từ các nguồn như: Ngân sách, thuế tài nguyên, các phí dịch vụ môi trường, du lịch sinh thái, thu từ xử lý các vụ vi phạm luật Bảo vệ và phát triển rừng, đóng góp của các tổ chức, cá nhân…), có cơ chế quản lí, sử dụng hợp lý, ưu tiên đầu tư cho các hộ nghèo sống gần rừng và có tập quán sinh sống gắn với rừng.
Năm là, cần có chính sách đặc thù để phát triển kinh tế nói chung và kinh tế lâm nghiệp nói riêng cho miền núi, đây là yếu tố rất quan trọng để cải thiện địa lý của các tỉnh miền núi vốn địa hình chia cắt, dân cư phân tán, khả năng thu hút vốn đầu tư rất hạn chế. Tập trung đầu tư hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông, sớm ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư (về tín dụng, đất đai, hỗ trợ các loại phí…) phù hợp với điều kiện của miền núi để tăng sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư; các doanh nghiệp.
Mặt khác đầu tư thoả đáng cho khu vực này còn có ý nghĩa rất lớn trong công tác xoá đói, giảm nghèo, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào miền núi nói chung, đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng.
Sáu là, đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, tạo bước đột phá về giống, kỹ thuật canh tác, chế biến sản phẩm nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh nghề rừng. Chú trọng công tác khuyến lâm, đặc biệt cho đồng bào dân tộc ít người và phụ nữ, để họ đủ năng lực thực hiện đa dạng hoá cây trồng, vật nuôi và gia đình có thu nhập ổn định. Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho cán bộ lâm nghiệp các cấp, nhất là ở các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để đáp ứng yêu cầu xã hội hoá lâm nghiệp.

Tham luận của đồng chí Hoàng Bình Quân
Đại biểu Đảng bộ tỉnh Tuyên Quang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,911,933


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs