Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Người lính già giữa núi rừng Mù Cang Chải

 04/05/2006

Sinh ra và lớn lên ở xã Minh Côi, huyện Hạ Hòa (Phú Thọ) nhưng ông Hứ lại sớm gắn bó với mảnh đất xứ Yên. Năm 17 tuổi người thanh niên Nguyễn Văn Hứ gia nhập Đội Tự vệ Cứu quốc quân thuộc Đại đội du kích cơ động huyện Trấn Yên (Yên Bái), hoạt động trong phong trào tiền khởi nghĩa.

Sau đó chuyển sang Đội du kích bảo vệ Chiến khu Vần. Tháng 3 năm 1949, Đại đội du kích bảo vệ Chiến khu Vần thành lập đội C96-Bộ đội địa phương tỉnh Yên Bái và vào hoạt động trong vùng địch tạm chiếm Than Uyên (vùng đồng bào HMông của huyện Mù Cang Chải hiện nay). Trong suốt những năm tháng hoạt động này, nhờ núi rừng hiểm trở và tình yêu thương, che chở của đồng bào nên lần nào ông Hứ cũng đều thoát khỏi sự săn lùng của kẻ địch. Sau Chiến dịch biên giới, năm 1952 khu Tây Bắc rộng lớn được giải phóng. Năm 1957 Chính phủ quyết định thành lập huyện Mù Cang Chải thuộc khu Tây Bắc, ông Hứ được cử lên huyện Mù Cang Chải giữ chức Chính trị viên Phó Huyện đội, ủy viên Ban Chấp hành Huyện ủy Mù Cang Chải... Cảm mến trước những tình cảm mộc mạc mà chân thành của con người và núi rừng nơi đây, hơn nữa, chính vùng đất này đã chở che cho ông trong suốt những năm tháng chiến đấu nên ông Hứ đã quyết định gắn bó trọn đời mình với bà con.

Nói về chuyện làm trang trại của gia đình, ông Hứ kể: Khu đất làm trang trại của ông trước kia vốn là khu vực do Huyện đội quản lý, địa hình phức tạp, bị bỏ hoang. Thấy tiếc của, bởi với ông “đất là vàng” nên ông đã làm đơn xin Huyện đội cho canh tác. Từ một cái khe ông đã cải tạo, biến nó thành ao thả cá thịt, khu ươm cá giống. Từ những bãi đất hoang, ông biến thành những cánh rừng keo, bạch đàn xanh ngút ngàn. Ông còn khai phá thêm diện tích để trồng lúa nước. Ông xin huyện giao cho quản lý thêm 5.000m2 rừng măng sặt, 70 gốc tre măng bát độ thử nghiệm. Với tổng số diện tích 4ha trang trại, ngoài 3ha rừng kinh tế, ông dành hẳn 1ha đất để trồng các loại cây ăn quả như lê, nhãn, hồng... Một số ít, ông dành trồng ngô để chăn nuôi lợn. Những năm gần đây, năm nào gia đình ông cũng thu được trên dưới 20 triệu đồng từ trang trại, ngô, lúa. Ông tâm sự: “Cuộc sống của bà con ở đây còn nhiều khó khăn lắm. Bà con chưa quen cách thâm canh cây trồng mới, việc cán bộ khuyến nông đưa các giống cây mới vào trồng là không dễ chút nào. Nếu bà con chỉ nghe nói mà không nhìn thấy kết quả thì sẽ không tin, không làm, do vậy mà tôi luôn phải làm trước để bà con tin”. Mấy năm trước đây gia đình ông có một khu đất trồng mận, khi cây mận cằn, năng suất giảm, giá mận lại bấp bênh vì bí đầu ra, ông chuyển sang thâm canh lúa nương. Hiện nay, diện tích này ông dành để trồng thực nghiệm các loại giống cây mới và làm nơi ươm các loại giống cây ăn quả. Năm 2004 ông trồng ngô giống mới đạt kết quả, thấy vậy hàng loạt gia đình khác cũng trồng theo. Năm 2005, Phòng Nông nghiệp huyện giao cho ông cấy giống lúa mới: San ưu, Nhị ưu, trồng ngô xen đậu tương, trong suốt quá trình cây sinh trưởng cho đến khi thu hoạch, ông thường mời bà con đến để “xem tận mắt, sờ tận tay”.

Không chỉ là người đi đầu trong việc trồng thử các loại giống cây trồng mới, là “nhà thí nghiệm” của bà con, ông còn là người luôn trăn trở tìm hướng vận động bà con phát triển chăn nuôi đại gia súc. Trước đây ông có nuôi một đàn bò, nay toàn bộ số bò 7 con ông đã chuyển cho một số hộ nghèo trong huyện nuôi theo phương thức nuôi chia. Giống ông bỏ ra, khi bò đẻ được bê con thì chia đôi số bê đó, ông được một, người nuôi được một. Với cách làm tuy đơn giản như vậy, song ông đã giúp được nhiều gia đình không phải bỏ tiền mua mà vẫn có bò nuôi, giải phóng sức lao động.

Bài và ảnh: Trịnh Tuyến

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Triển khai Nghị quyết Đại hội X của Đảng nhiều Ban, ngành, đoàn thể, địa phương tổ chức thông báo nhanh kết quả Đại hội X của Đảng (05/2006)
  •  
  • Công bố Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (05/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,921,596


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs