Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
NHÓM NGÔN NGỮ MÔN-KHƠME
 31/07/2006

    1. Dân tộc Ba-na

        Dân tộc Ba-na phân bố tập trung ở vùng thung lũng sông BLa thuộc tỉnh Kon Tum, ngoài ra còn ở các tỉnh Gia Lai, Đắc Lắc, Bình Định, Phú Yên. Dân tộc Ba-na là một trong những cư dân sinh tụ lâu đời ở Trường Sơn- Tây Nguyên, đã kiến lập nên nền văn hoá lâu đời độc đáo ở đây.

        Kinh tế chủ yếu của người Ba-na là làm nương rẫy và ruộng khô, trồng trọt ngô, lúa và các loại hoa màu. Cùng với nông nghiệp là chăn nuôi, các nghề thủ công như dệt vải, nghề rèn, nghề gốm và đan lát cũng thịnh hành.

        Dân cư sống thành buôn làng gọi là Plây, rải rác trên các sườn đồi, núi có suối nước; quanh Plây có rào gỗ bao bọc, mở cổng ra vào, mỗi Plây thường có 30 - 40 nóc nhà, gọi là Nam, theo kiểu nhà sàn; giữa Plây có một nhà công cộng gọi là nhà Rông, là trung tâm của các sinh hoạt chính trị, văn hoá, phong tục, nghi lễ của mỗi Plây. Dân tộc Ba-na có bản sắc văn hoá dân tộc độc đáo và phong phú với nhiều biểu hiện truyền thống, chẳng hạn: quyền thừa kế tài sản bình đẳng giữa các con. Trai gái tự do tìm hiểu trong hôn nhân, khi lập gia đình, vợ chồng luân phiên sinh sống ở cả nhà trai và nhà gái, dựng nhà riêng khi sinh con đầu lòng; trẻ em được nuông chiều, mọi thành viên trong gia đình bình đẳng, thuận hoà. Về văn hoá phục sức, xưa kia người Ba-na có tục "cà răng căng tai", đeo nhiều vòng trang sức rực rỡ; đàn ông đóng khố cởi trần, đàn bà lấy vải cuốn làm váy và áo không tay. Trong ngày hội áo váy đều sặc sỡ hơn ngày thường. Đàn ông thường đeo gươm dài có vỏ đẹp hay mang ná với nhiều ống tên bao quanh thắt lưng.

        Người Ba-na thờ nhiều thần linh, mỗi vị có tên riêng. Người chết hoá thành ma, lúc đầu ma ở mộ và sau lễ "bỏ mả", ma về với tổ tiên, vĩnh biệt người sống. Sinh hoạt văn hoá dân gian của người Ba-na rất phong phú, nhiều làn điệu dân ca, nhiều điệu múa trình diễn trong các hội lễ và nghi lễ tôn giáo; nhạc cụ đa dạng, gồm những bộ cồng chiêng (đúc bằng đồng), những đàn Tơ rưng, Brọ, Klông pút, Kơ ni, Khinh Khung,... và nhiều loại kèn. Nét kiến trúc biểu hiện là ngôi nhà Rông và tượng nhà Mồ bằng gỗ. Lễ hội đâm trâu là lễ hội tiêu biểu nhất của dân tộc Ba-na cũng như các dân tộc khác sinh sống ở Tây Nguyên.

    2. Dân tộc Brâu

        Dân tộc Brâu sinh sống tập trung Đăk Mế xã Pờ Y, huyện Ngọc Hồi và một số ở huyện Đắc Tô, tỉnh Kon Tum. Họ có quan hệ gần gũi về tiếng nói với các nhóm Ca Dong, Xơ Đăng. Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy: trồng lúa, ngô, sắn với kỹ thuật lạc hậu, năng suất thấp; sắn bắn, hái lượm còn chiếm vị trí quan trọng, đem lại thức ăn khá thường xuyên cho mọi gia đình, ngoài ra còn có nghề thủ công như rèn, đan lát....

        Các nhóm Brâu từ xưa du canh, du cư, về sau sống thành từng làng gọi là Srúc. Nhà ở kiểu nhà sàn, mái dốc, cạnh nhà chính có nhà phụ là nơi ở của người già và cất giữ lương thực, đồ dùng. Người Brâu có tục xăm mình và cà răng, nam đóng khố, nữ quấn váy ngắn và cởi trần, thường đeo nhiều trang sức. Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái song do nhà trai chi phí. Sau lễ kết hôn, tục ở rể được kéo dài khoảng 3-4 năm và tiếp đó là thời kỳ luân cư của đôi trai gái. Theo phong tục, người chết được đưa ra khỏi nhà và cho vào quan tài bằng thân cây khoét rỗng để ở nhà tang mới dựng gần nhà ở. Quan tài được chôn nửa chìm, nửa nổi là một đặc trưng trong tục lệ ma chay của người Brâu. Nhà mồ dựng trên mộ để chứa những tài sản được chia cho người chết. Số tài sản này đều đã bị huỷ bỏ một phần dưới hình thức bẻ gẫy, chọc thủng, làm sứt mẻ... Sinh hoạt văn hoá truyền thống là chơi cồng chiêng với các nhạc cụ như Chiêng Tha. Con gái thường chơi đàn Klông Pút làm bằng 5-7 ống lồ ô, cùng với các nhạc cụ là các làn điệu dân ca, các trò chơi như đi cà kheo, đánh phết... rất được ưa chuộng.

    3. Dân tộc Bru- Vân Kiều

        Dân tộc Bru-Vân Kiều sinh sống tập trung ở miền núi các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế, là dân tộc sinh sống lâu đời ở ven Trường Sơn Đông. Người Bru-Vân Kiều sống chủ yếu nhờ làm rẫy và làm ruộng. Nghề hái lượm, săn bắt và đánh cá là nguồn cung cấp thức ăn quan trọng. Chăn nuôi gia súc, gia cầm trước hết cho cúng lễ sau mới là cải thiện bữa ăn. Làng bản nằm dọc theo bờ sông suối hay lưng chừng những quả đồi thấp hoặc trong thung lũng màu mỡ, giữa làng có nhà Roong (hay Rông). Nhà theo kiểu nhà sàn, bếp lửa bố trí ngay trên sàn. Nhà xếp thành hình tròn hay hình bầu dục quanh nhà Rông, ngày nay nhiều nơi có xu hướng ở nhà trệt. Người già làng có vai trò và uy tín rất lớn đối với đời sống của làng. Nam nữ thanh niên tự do yêu đương, nhà trai tổ chức cưới vợ cho con phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa; khi về nhà chồng cô dâu phải qua một số nghi lễ bắt buộc như: bắc bếp, rửa chân, ăn cơm chung với chồng.... Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm "lễ cưới" lần thứ 2 khi có điều kiện về kinh tế, gọi là lễ khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng. Người phụ nữ khi mang thai không bước qua cây nằm ngang đường. Ngày trước, đàn ông đóng khố ở trần, đàn bà mặc váy, áo không tay, mặc chui đầu. Y phục kiểu người Kinh thời nay đã trở thành phổ biến, nhưng tập quán mặc váy vẫn được bảo lưu. Người Bru - Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên, rất tin vào các thần linh (Yang): Thần lúa, Thần Bếp Lửa, Thần Núi, Thần Đất... Ma gia đình nhà vợ cũng được con rể thờ cúng. Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích các dòng họ, nguồn gốc dân tộc..., có nhiều làn điệu dân ca và nhiều nhạc cụ như cồng, trống, chiêng, đàn và các loại kèn.

    4. Dân tộc Co

        Dân tộc Co cư trú chủ yếu ở huyện Trà My (Quảng Nam) và huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi). Kinh tế rẫy là nguồn sống chủ yếu, lúa rẫy là nguồn lương thực chính. Trầu không và quế của người Co nổi tiếng lâu đời. Đặc biệt quế quý và nhiều là một nguồn lợi lớn: quế rừng và quế trồng. Một số người Co ở Bồng Miêu có nghề đãi vàng. Người Co sống ở những làng bản dựng ven lưng chừng núi, ven suối, sông hay thung lũng được gọi là Plơi. Đó là một nóc nhà sàn có khi dài tới hàng trăm mét, nhà được chia làm hai phần, một nửa chạy suốt hai cầu thang hai đầu hồi gọi là Gưl, tức là nhà làng, làm nơi sinh hoạt chung, làm nơi ở cho già làng và thanh niên chưa vợ, phần còn lại gọi là Tum được chia thành từng phòng, mỗi phòng một bếp lửa, làm nơi ở cho các đôi vợ chồng và con cái, có cửa thông với Gưl. Ngày nay, các gia đình ở riêng ra trong từng ngôi nhà trệt. Người Co không biết dệt vải. Theo truyền thống, nam đóng khố, ở trần; nữ quấn váy, mặc áo cộc tay; mùa lạnh thì khoác tấm vải choàng, thích đeo trang sức, nhất là hạt cườm. Ngày nay, sắc phục chính là quần áo người Kinh, các loại vòng trang sức cũng chỉ bắt gặp thưa thớt, đơn giản. Người Co tin vào vạn vật hữu linh, thờ nhiều thần nhưng chủ yếu là thần lúa. Thanh niên nam nữ tự do tìm hiểu, cưới xin đơn giản, cô dâu về nhà chồng; trước đây chỉ được kết hôn trong cùng tộc người. Phong tục cho phép nếu vợ chết có thể lấy tiếp em hoặc chị của vợ, nhưng vợ goá không thể lấy em chồng. Người Co yêu thích âm nhạc. Họ dùng bộ chiêng 3 chiếc là phổ biến. Nhạc cụ còn có trống, các loại đàn, nhị. Múa chỉ xuất hiện trong các lễ đâm trâu. Các điệu dân ca Xru (Klu), Agiới được lưu truyền rộng rãi. Vốn truyện cổ khá phong phú, có huyền thoại, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn... Nghệ thuật trang trí tập trung nhất ở cây cột lễ và bộ phận được gọi là laval trong lễ hội đâm trâu.

    5. Dân tộc Chơ-ro

        Dân tộc Chơ-ro cư trú chủ yếu ở tỉnh Đồng Nai và một số nơi khác ở các tỉnh Bình Thuận, Sông Bé (cũ), Bà Rịa-Vũng Tàu

        Kinh tế trước đây làm rẫy là chính, nay phát triển làm ruộng lúa nước, chăn nuôi và một số nghề thủ công như đan lát; ngoài ra vẫn duy trì nghề hái lượm, săn bắn, thường tập trung vào thời gian nông nhàn (khoảng tháng 6-7 âm lịch).

        Người Chơ-ro sống trong nhà sàn, cầu thang đặt đầu hồi nhà, ngày nay sống trong nhà trệt, đồ dùng đơn giản, hai vật dụng chiêng và ché là có giá trị nhất. Trước đây, đàn ông đóng khố, phụ nữ quấn váy, mùa lạnh khoác thêm tấm chăn. Ngày nay, đại đa số người Chơ-ro đã ăn mặc theo lối của người Kinh cùng địa phương; một số người Chơ-ro vẫn giữ tập quán cũ, thường mang theo gùi trên lưng, riêng phụ nữ thích đeo các vòng đồng, bạc và dây cườm. Việc lấy chồng, lấy vợ của người Chơ-ro tồn tại cả hai hình thức: nhà trai đi hỏi vợ hoặc nhà gái đi hỏi chồng. Hôn lễ tổ chức tại nhà gái, sau lễ thành hôn thì cư trú phía nhà vợ, sau vài năm sẽ dựng nhà ra ở riêng. Về ma chay, người Chơ-ro theo tập quán thổ táng. Mộ phần được đắp cao lên theo hình bán cầu. Trong 3 ngày đầu, người ta gọi hồn người chết về ăn cơm, sau đó là lễ "mở cửa mả" với 100 ngày cúng cơm; tài sản của người chết được chia đôi, một phần đem bỏ ở mả, phần còn lại bán lấy tiền làm ma. Tập quán dùng vàng mã đã xuất hiện trong tang lễ của người Chơ-ro. Người Chơ-ro thờ nhiều vị thần, trong đó có "Thần Rừng" và "Thần Lúa" là trọng lễ. Xã hội truyền thống Chơ-ro chưa có chữ viết, truyền bá kiến thức cho thế hệ sau theo lối truyền khẩu. Vốn văn nghệ dân gian chỉ còn một vài điệu hát đối đáp trong những dịp lễ hội, họ cất lên lời khẩn cầu thần lúa và hiện nay rất ít người biết đến. Nhạc cụ có bộ chiêng đồng 7 chiếc và các nhạc cụ làm bằng tre nứa.

   6. Dân tộc Cơ-ho

        Dân tộc Cơ-ho cư trú chủ yếu ở các huyện Bảo Lộc, Di Linh tỉnh Lâm Đồng và một số huyện thuộc tỉnh Đồng Nai. Về hoạt động sản xuất, trừ nhóm Xrê làm ruộng nước còn các nhóm khác làm rẫy (mir) du canh theo chu kỳ. Lúa là cây lương thực chính và là cây trồng chủ yếu, ngoài ra còn ngô, sắn, bầu, bí, mướp, đậu...Chăn nuôi theo lối thả rông. Săn bắt, đánh cá, hái lượm lâm thổ sản vẫn rất phổ biến. Người Cơ-ho sống ở trong nhà sàn dài, mọi sinh hoạt của gia đình (ăn uống, nghỉ ngơi, tiếp khách) đều diễn ra xung quanh bếp lửa. Tổ chức gia đình theo chế độ mẫu hệ. Người đàn bà đóng vai trò chủ động trong hôn nhân; sau hôn lễ người con trai về bên nhà vợ; con cái tính theo dòng họ mẹ. Đàn ông đóng khố, phụ nữ vấn váy ngang lưng, chân quấn xà cạp, áo ngắn bó lấy thân và thích đeo đồ trang sức. Người Cơ-ho tin rằng mọi mặt đời sống đều do các thế lực siêu nhân quyết định nên hầu như làm bất cứ việc gì, hay có chuyện gì họ cũng thờ cúng để cầu xin. Trong các nghi lễ của người Cơ-ho, những nghi lễ liên quan đến công việc làm rẫy, làm ruộng là những nghi lễ quan trọng nhất và được tiến hành thường xuyên hơn. Bàn thờ (nao) thường được đặt ở chỗ trang trọng và tôn nghiêm nhất trong nhà. Hàng năm khi mùa màng đã thu hoạch xong (thường là tháng 12 dương lịch), người Cơ-ho tổ chức ăn tết. Lễ tết kéo dài từ 7-10 ngày. Sau Tết, người ta mới được ăn lúa mới và thực hiện các công việc cần làm như làm nhà, chuyển làng... Vốn văn học nghệ thuật dân gian Cơ-ho rất phong phú. Thơ ca giàu trữ tình và đầy nhạc tính. Một số vũ khúc cổ truyền thường được diễn trong các lễ hội. Các nhạc cụ truyền thống như bộ cồng chiêng 6 chiếc, kèn ống bầu (Kơmbuat), đàn ống tre (Kơrla), trống (sơgơr),... có khả năng hoà âm với lời ca hoặc độc tấu.

    7. Dân tộc Cơ-tu

        Dân tộc Cơ-tu sinh sống chủ yếu ở huyện Hiên, Nam Giang tỉnh Quảng Nam và các huyện A Lưới, Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Họ thuộc số cư dân cư trú lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên. Kinh tế làm rẫy là chủ yếu theo phương thức phát rừng làm rẫy, chọc lỗ tra hạt truyền thống; có một số nghề thủ công như dệt, đan lát; có chăn nuôi và duy trì phương thức săn bắn, hái lượm.

        Người Cơ-tu sống thành từng làng cách xa nhau, gọi là Vel hay Vil, mỗi Vel có khoảng 15 - 30 nóc nhà sàn. Đứng đầu Vel là trưởng làng, thường là các già làng có uy tín nhất. Toàn bộ nhà ở trong làng dựng thành một vòng quây quanh khoảng trống ở giữa. Mỗi làng có ngôi nhà chung gọi là Gươl, cao lớn và đẹp nhất, là nơi hội họp và sinh hoạt cộng đồng. Người Cờ-tu theo chế độ phụ hệ, có nhiều dòng họ, mỗi dòng họ có tên gọi và kiêng cữ một điều nhất định và có truyện giải thích về điều kiêng cữ ấy. Khi cưới xin, nhà trai phải tốn của cải nộp cho nhà gái và tổ chức cưới. Phổ biến hình thức con trai cô lấy con gái cậu, vợ goá lấy em hoặc anh của chồng quá cố. Quan hệ hôn nhân một chiều: nếu nhà A đã gả con gái cho nhà B thì nhà B không được gả con gái cho nhà A. Trước kia, những người giàu thích tổ chức "cướp vợ". Mỗi làng có nghĩa địa riêng, người trong họ chôn cùng một khu đất; có nhà mồ và tượng nhà mồ, không cúng giỗ cũng không tảo mộ. Người Cờ-tu ưa chuộng nhất bộ y phục bằng vải dệt nền đen có hoa văn bằng chì, thứ đến hoa văn bằng cườm trắng. Đàn ông quấn khố, thường ở trần. Đàn bà mặc váy ống. Nếu váy dài thì che từ ngực trở xuống, nếu váy ngắn thì thân trên mặc áo không ống tay; ngày lễ hội có thêm thắt lưng nền trắng mộc. Loại vải tấm lớn dùng để choàng, quấn và đắp. Trong đời sống cá nhân, gia đình và của làng, có rất nhiều lễ cúng gắn với sức khoẻ, với sản xuất. Theo người Cơ-tu, đối với các siêu nhân, máu con vật hiến sinh quan trọng đặc biệt. Làng có thể có vật "thiêng" (thường là hòn đá) được cất giữ ở ngôi nhà chung, như một thứ bùa. Một số cá nhân cũng có loại bùa này. Sinh hoạt văn hoá dân gian phong phú như lối hát trữ tình gọi là Tơ Len và có nhiều truyện cổ. Hàng năm có nhiều lễ hội cầu mong cho cuộc sống bình an và mùa màng bội thu; lễ đâm trâu là lễ hội tiêu biểu nhất. Trong lễ hội thường trình diễn múa tập thể: nữ múa Dạ dạ, nam múa Ting tung.

    8. Dân tộc Gié-Triêng

        Người Gié - Triêng là dân cư gắn bó rất lâu đời ở vùng quanh dãy núi Ngọc Linh. Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy, ngoài ra còn duy trì săn bắn và hái lượm. Các gia đình nuôi gia súc để dùng vào việc hiến sinh tế lễ, có một số người đãi vàng ở sông. Người Gié - Triêng có sở trường về đan lát, nghề dệt vải phát triển ở nhiều nơi.

        Bản làng nằm cheo leo lưng chừng núi, mỗi bản có già làng gọi là Kgia đứng đầu làng. Hình thức nhà sàn dài gồm nhiều "bếp" là lối kiến trúc truyền thống phổ biến, đặc biệt ở vùng người Gié và Bnoong, có khi cả làng ở trong một vài ngôi nhà. Về sau nhà trệt đã xuất hiện đó đây. Ở nhiều nơi, trừ nhóm Bnoong, trong làng thường dựng nhà công cộng cao to và đẹp. Tập quán bố trí nhà thành một vòng ôm quanh khoảng trống ở giữa là một nét văn hoá lâu đời của họ ở Giằng và một số nơi ở Đắc Glây. Theo nếp cổ truyền, nam quấn khố ở trần, trời lạnh thì choàng tấm vải cho ấm người; nữ mặc áo, quấn váy, có nơi dùng loại váy ống dài để che luôn cả thân trên, từ ngực trở xuống. Phụ nữ ưa đeo nhiều trang sức, đeo ở cổ, tay, chân, tai; phụ nữ các gia đình khá giả có cả hoa tai bằng ngà voi. Y phục theo kiểu người Kinh hiện tại đã thâm nhập tận các làng xa xôi hẻo lánh. Người Gié-Triêng (trừ nhóm Bnoong) duy trì một số tập tục cũ như: con trai lấy họ cha, con gái lấy họ mẹ; mỗi họ đều có tên, có kiêng kỵ và có truyện giải thích về tên họ và điều kiêng kỵ đó. Con trai 10 tuổi bắt đầu ngủ đêm tại nhà Rông; khoảng 13-15 tuổi thì cà răng, sau đó vài ba năm thì lấy vợ; việc hôn nhân do con gái chủ động, trước khi lấy nhau con trai phải biết đan lát và đánh cồng chiêng; con gái phải biết dệt và đan chiếu, chuẩn bị 100 bó củi nộp cho nhà trai trong lễ cưới. Trước kia, đôi vợ chồng cư trú luân phiên mỗi bên vài năm. Người chết chôn trong quan tài độc mộc, tang lễ tôn giáo có tượng đầu trâu ở mộ, sau một thời gian làm lễ bỏ mả đoạn tang. Suốt 10 ngày, khi làng có người mới chết, trước khi tang gia cúng "nhắc nhở" cho hồn người chết ở yên bãi mộ, dân làng không vào rừng, không đi làm xa nhà. Nghi thức đoạn tuyệt với mộ người chết thường được tổ chức vào dịp đầu năm tại cạnh ngôi mộ. Bộ nhạc cụ quý giá và quan trọng nhất là cồng - chiêng. Nguyên ống nứa cũng là loại nhạc cụ để thổi, vỗ, gõ. Các loại đàn sáo, khèn đều đơn giản, thông dụng trong đời sống âm nhạc.

    9. Dân tộc Hrê

        Người Hrê thuộc số cư dân sinh sống rất lâu đời ở vùng Trường Sơn - Tây Nguyên, sống chủ yếu ở miền tây tỉnh Quảng Ngãi (các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long) và huyện An Lão, tỉnh Bình Định; một số ít ở tỉnh Kon Tum (huyện Kon Plông), Người Hrê làm ruộng nước là chính, chỉ có một bộ phận sống chủ yếu nhờ rẫy. Nghề thủ công có đan lát và dệt vải nhưng nay cũng không phát triển, nhất là nghề dệt chỉ còn có ở vài nơi. Hái lượm, săn bắn, đánh cá cung cấp nguồn thức ăn quan trọng cho mỗi gia đình.

        Người Hrê ở trong các ngôi nhà sàn, mặt nhà cao hơn mặt đất chừng một mét, vách dựng nghiêng, phía trên choãi ra, hai đầu nhà có hình thú rừng, mỗi đầu nhà sàn có gian cách với trong nhà, một đầu cho đàn ông tiếp khách, còn đầu kia giành cho phụ nữ. Mỗi làng có già làng có uy tín và ảnh hưởng lớn. Theo nếp cũ, đàn ông đóng khố, áo cánh ngắn hoặc ở trần, đầu quấn khăn; đàn bà mặc váy hai tầng, áo 5 thân, trùm khăn; nam nữ đều búi tóc, cài trâm hoặc lông chim, thích đeo trang sức, riêng nam giới không trang sức ở tai. Hiện nay, hầu hết người Hrê mặc theo kiểu người Kinh. Tuy còn nhiều phụ nữ dùng váy nhưng không phải loại vải sợi bông tự làm ra với những dải hoa văn ở hai đầu ống váy và khi mặc không tạo thành hai tầng như xưa. Người Hrê có nhiều kiêng cữ và lễ thức tôn giáo, xuất phát từ quan niệm mọi vật đều có hồn hay ma và con người bị các lực lượng siêu nhân chi phối. Cộng đồng làng chỉ tổ chức cúng cầu an, tránh dịch bệnh, còn lại đều là các lễ cúng của gia đình. Hàng năm, người Hrê ăn tết vào khoảng tháng 10, sau khi thu hoạch lúa, nay nhiều làng theo Tết Nguyên đán. Văn hoá, văn nghệ dân gian khá phong phú. Nhạc cụ thường dùng là bộ chiêng cồng ba chiếc, các loại đàn ống tre hoặc có vỏ bầu làm hộp âm, sáo, nhị, đàn môi. Dân ca phổ biến nhất là điệu Kalêu và Kachoi. Truyện cổ (Hmon) được lưu truyền như một vốn quý trong văn hoá dân tộc, gồm những đề tài khác nhau. Các mô típ văn hoa hình học dệt trên vải và thể hiện trên đồ đan cũng mang tính truyền thống lâu đời.

    10. Dân tộc Kháng

        Sinh sống tập trung ở hai tỉnh Lai Châu và Sơn La. Nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo với cách thức phát đốt, chọc lỗ tra hạt. Có thể phân thành ba nhóm: Nhóm sống du canh, du cư: làm rẫy; Nhóm du canh bán định cư: làm rẫy kết hợp làm ruộng; Nhóm định canh, định cư: làm ruộng kết hợp làm rẫy. Chăn nuôi khá phát triển, nghề phụ nổi tiếng là đan lát đồ gia dụng (hòm, ghế mây, mâm, gùi...). Người Kháng giỏi đóng thuyền và đi thuyền độc mộc, thuyền đuôi én. Thuyền của họ đóng được các dân tộc anh em ưa mua dùng.

        Bản làng bố trí ở chân núi, ven sông suối. Nhà có hai dạng: nhà tạm bợ và nhà kiên cố. Nhà sàn gồm một mái và hai mái, không phủ nóc, không có chái, có cửa chính thông suốt từ đầu này sang đầu kia, thông với cầu thang lên xuống. Người Kháng mặc giống người Thái. Hôn nhân có nhiều nghi thức, và qua hai lần cưới: lần cưới đầu chàng trai đến ở rể và lần thứ hai đưa dâu về nhà chồng để sinh sống riêng, đây là lễ quan trọng nhất. Người chết được chôn cất chu đáo, trên mộ có nhà mồ và những đồ vật chia cho người chết, phía đầu mộ có cột chôn sâu cao 4-5 mét trên đỉnh cột có con chim bằng gỗ và treo áo của vợ (hay chồng) của người chết. Bố, mẹ chết được thờ trên tấm phên ở nóc nhà và biến thành ma nhà. Hàng năm bản làng cúng ma Trời và ma Đất.

    11. Dân tộc Khmer

        Dân tộc Khmer sống tập trung ở một số tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long như: An Giang, Cần Thơ, Kiên Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trồng lúa nước, đã biết thâm canh lúa, giỏi về thuỷ lợi và biết tận dụng thuỷ triều; bộ công cụ sản xuất nông nghiệp khá hoàn thiện và hiệu quả với những công cụ thích ứng với điều kiện địa lý sinh thái Nam Bộ. Người Khmer còn thạo nghề đánh cá, dệt chiếu, đan lát, dệt vải, làm đường thốt nốt và làm gốm với kỹ thuật đơn giản.

        Dân tộc Khmer sống thành các điểm tụ cư gọi là Phum, Sóc (tương tự như thôn, ấp của người Kinh). Người Khmer trước đây ở nhà sàn, kiểu nhà sàn phù hợp với mùa nước lũ hàng năm, cao đến 5- 7 mét, 3 gian quay về hướng đông, làm bằng gỗ lợp ngói hay tranh, rơm rạ. Hiện nay, người Khmer sống trong các ngôi nhà trệt, mái lá, vách lá đơn giản. Về y phục, trước đây nam nữ đều mặc xà rông bằng lụa tơ tằm do họ tự dệt. Lớp thanh niên ngày nay thích mặc quần âu và áo sơ mi. Những người già, người lớn tuổi thường mặc quần áo bà ba với chiếc khăn rằn luôn quấn trên đầu hoặc vắt qua vai. Chỉ đặc biệt trong cưới xin, nam nữ mới mặc quần áo cổ truyền. Chú rể mặc xà rông, áo màu đỏ, cổ đứng với hai hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài trắng và con dao cưới ngụ ý bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu mặc xăm pốt (váy) màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ, quàng khăn và đội mũ cưới truyền thống. Người Khmer đã có tục hoả thiêu từ lâu. Sau khi thiêu, tro được giữ trong tháp Pì chét đẩy, xây cạnh ngôi chính điện trong chùa. Người Khmer theo tín ngưỡng dân gian, theo đạo Bà La Môn và Phật giáo tiểu thừa. Chùa là trung tâm hành lễ của cư dân các Phum, Sóc. Theo quy định thì mỗi thanh niên trước khi trưởng thành phải đến chùa tu học một thời gian để rèn luyện phẩm hạnh và trình độ, sau đó trở về nhà. Hàng năm, người Khmer có hai lễ lớn trong năm: Tết Chuôn chnam Thmây tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng Chét (theo Phật lịch) vào khoảng tháng tư dương lịch; lễ chào mặt trăng tổ chức vào rằm tháng 10 âm lịch, trong lễ này có đua thuyền Ngo giữa các phum-sóc. Dân tộc Khmer có nền văn hoá, văn nghệ dân gian phong phú, biểu hiện trong các lễ hội theo chu kỳ thời gian và vòng đời, các loại hát ứng khẩu dân ca được mọi lứa tuổi ưa chuộng, có nhiều trò chơi như thả diều, đua thuyền trên sông nước. Nghệ thuật và kiến trúc chùa tháp được coi là di sản đặc sắc nhất của văn hoá Khmer. Dân tộc Khmer có tiếng nói và chữ viết riêng.

    12. Dân tộc Khơ-mú

        Dân tộc Khơ-mú là một trong những cư dân đã cư trú lâu đời nhất ở miền Tây Bắc Việt Nam, sinh sống tập trung ở các tỉnh từ Lai Châu, Sơn La, Yên Bái và Thanh Hoá, Nghệ An.. Hoạt động kinh tế chủ yếu là canh tác nương rẫy nên được gọi là "Xá ăn lửa". Ngoài hình thái du canh du cư là chủ yếu, bộ phận định cư thường canh tác nương theo chu trình vòng tròn khép kín. Cây trồng ngoài lúa ngô ra còn có bầu bí, đỗ và các loại cây có củ. Phương thức canh tác truyền thống lạc hậu, hái lượm và săn bắt vẫn được duy trì; chăn nuôi gia súc và gia cầm để phục vụ lễ bái và tiếp khách; các ngành nghề thủ công có đan lát và dệt vải tương đối phát triển.

        Do cuộc sống du canh du cư (cho đến nay đã được hạn chế) nên làng bản thường ở cách xa nhau, nhà cửa sơ sài, thường là nhà sàn, những nơi đã định canh định cư làng bản đông vui hơn. Dân tộc Khơ-mú có một số nét truyền thống như tên dòng họ mang tên các loài thú, chim, cây cỏ. Hôn nhân theo nguyên tắc thuận chiều, đặc biệt trong phạm vi một dòng họ. Trong hôn nhân, nhiều tàn dư mẫu hệ còn tồn tại như tục ở rể, chồng mang họ vợ, hôn nhân anh em vợ, chị em chồng. Đám ma của người Khơ-mú gồm nhiều nghi thức tín ngưỡng. Đặc biệt bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng giờ sau đó mới đem thi hài đi chôn. Ngoài lễ cúng mường, người Khơ-mú còn lễ cúng bản, đặc biệt là lễ cúng Ma Nhà trong dịp tết và khi con cháu trong nhà đau ốm. Bàn thờ Ma Nhà đặt trên gác bếp, còn ông bà thờ ở một gian riêng kín đáo và rất kiêng kỵ đối với người ngoài. Về văn nghệ, làn điệu dân ca quen thuộc nhiều người ưa thích là Tơm. Làn điệu này mang đậm tính sử thi, trữ tình. Cách hát theo kiểu đối đáp. Người Khơ-mú thích xoè, múa, thổi các loại sáo, các bộ gõ bằng tre, nứa tự tạo, đặc biệt là thổi kèn môi.

    13. Dân tộc Mạ

        Là dân tộc sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên, tập trung chủ yếu ở các huyện phía nam tỉnh Lâm Đồng. Hoạt động sản xuất chủ yếu là làm nương rẫy, loại rẫy đa canh, ngoài trồng lúa còn trồng các loại cây khác như bắp, bầu, bí, thuốc lá, bông vải; nhóm ở huyện Cát Tiên đã biết làm ruộng nước với phương thức lùa đàn trâu xuống dẫm đất cho nhuyễn, sau đó mới gieo lúa giống; về chăn nuôi: phát triển trâu bò là chính, chăn thành đàn thả rông vào rừng; đánh cá, săn bắt, hái lượm vẫn được duy trì. Người Mạ nổi tiếng về nghề trồng bông dệt vải; nghề làm thuyền độc mộc là nghề truyền thống của bộ phận người Mạ sống ở vùng sông La Ngà.

        Dân cư sống thành từng làng (bon). Mỗi bon có từ 5-10 nhà sàn dài. Xung quanh nhà ở, họ còn dựng nhiều kho lúa trên sàn cao. Các cột nhà kho đều trang trí theo mô típ chày cối. Trong cưới xin, quyền chủ động hôn nhân do bên nhà trai, nhưng sau lễ cưới nếu nhà trai nộp đủ sính lễ thì đôi vợ chồng chỉ ở lại nhà gái 8 ngày, còn không chàng trai phải ở rể đến khi nộp đủ mới được đưa vợ về ở nhà mình. Phụ nữ mặc váy quấn, dài quá bắp chân, áo chui đầu vừa sát thân dài tới thắt lưng, kín tà. Nam đóng khố, áo hở tà, vạt sau dài hơn vạt trước. Người Mạ có tập quán cà răng, căng tai, phụ nữ thích đeo chuỗi hạt cườm nhiều màu sắc. Thanh niên mang nhiều vòng đồng ở cổ tay có ngấn khắc chìm như là ký hiệu của các lễ hiến sinh tế thần linh, cầu may cho chính mình. Vốn văn học nghệ thuật dân gian khá phong phú gồm nhiều truyền thuyết, truyện cổ và những bài dân ca trữ tình gọi là tam bớt. Nhạc cụ truyền thống là bộ chiêng đồng 6 chiếc không núm. Khi hoà tấu có trống bịt da trâu đánh giáo đầu, giữ nhịp và đổ hồi trước khi kết thúc. Con trai Mạ thường thổi khèn bầu, sáo trúc, tù và bằng sừng trâu.

    14. Dân tộc Mảng

        Dân tộc Mảng cư trú rải rác trong 4 huyện Mường Lay, Mường Tè, Phong Thổ, Sìn Hồ tỉnh Lai Châu. Người Mảng là cư dân "ăn nương", chuyên sống bằng nông nghiệp nương rẫy theo lối sống du canh du cư với kỹ thuật cach tác lạc hậu, năng suất thấp, đời sống bấp bênh, thiếu ăn quanh năm. Mấy năm gần đây họ đã biết làm nương cuốc; một số nơi làm ruộng bậc thang, năng suất lúa ổn định hơn. Chăn nuôi, thủ công chưa phát triển. Hái lượm, săn bắn trong suốt 4 mùa vẫn giữ vai trò quan trọng trong hoạt động kinh tế. Nhiều sản phẩm đan lát của người Mảng như bem, cót, gùi rất được các dân tộc khác ưa chuộng. Người Mảng cư trú thành từng Muy (làng, bản), mỗi dòng họ có một Muy riêng, có trưởng Muy và hội đồng già làng; nhà ở là nhà sàn, có một số nhà đất. Y phục truyền thống vẫn được gìn giữ mặc dù nhiều người mặc giống người Thái hoặc Kinh. Nét độc đáo trong y phục phụ nữ Mảng là tấm choàng quấn quanh thân được cắt may bằng vải thô màu trắng, ở giữa thêu hàng chỉ đỏ. Đầu để trần, tóc buộc thành chỏm trên đầu bằng dây có tua khá đẹp, chân quấn xà cạp. Tập tục cũ có xăm mình với con trai từ 16-18 tuổi và con gái từ 15-16 tuổi, sau đó mới được công nhận là thành viên của cộng đồng. Người Mảng tin có nhiều ma, trong đó ma nhà có vị trí đặc biệt quan trọng. Ma nhà được cúng vào dịp tết hoặc khi trong nhà có người đau ốm. Bên cạnh đó, họ cũng thờ ma Đẳm-tổ tiên, dòng họ. Người Mảng có nhiều làn điệu dân ca, làn điệu oxoỏng được nhiều người biết và ưa thích.

    15. Dân tộc Mnông

        Dân tộc Mnông sống tập trung ở phía nam tỉnh Đắc Lắc, một phần tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Bình Dương (Sông Bé cũ). Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy, nhóm dân cư sống quanh hồ Lắc và sông Krông Ana biết làm ruộng nước. Sản xuất thủ công nghiệp phổ biến là nghề đan đồ gia dụng bằng mây, tre, lá; thứ đến là nghề trồng bông dệt vải do phụ nữ đảm nhiệm. Trong mỗi làng còn có người biết làm gốm thô, nặn bằng tay và nung lộ thiên. Đặc biệt ở vùng Buôn Đôn, cư dân có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng rất nổi tiếng.

        Các buôn (làng) nằm rải rác quanh các sườn đồi thấp hay cạnh sông suối; mỗi buôn có từ 20-30 nóc nhà, có 2 loại nhà: nhà sàn dài 12-15 mét và nhà trệt có mái phủ gần đất nên cửa ra vào có hình vòm như tổ tò vò. Trưởng buôn có vai trò và uy tín quan trọng. Dấu vết của chế độ mẫu hệ còn rất đậm nét trong mọi quan hệ xã hội hiện nay, quan hệ huyết thống tính theo dòng họ mẹ. Song tập quán mẫu hệ đã và đang tan rã ở nhiều thang bậc khác nhau theo từng nhóm địa phương. Về mùa nóng, đàn ông xưa kia thường đóng khố, cởi trần, đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần, về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Kinh. Tập quán cà răng căng tai phổ biến trong xã hội cổ truyền, đến nay chỉ còn lại dấu ấn ở lứa tuổi những người cao niên. Trong hôn nhân phụ nữ thường chủ động hơn. Sau hôn nhân, phổ biến là cư trú bên nhà gái. Ở nhiều nhóm địa phương lại phổ biến hình thức luân cư song phương. Chế độ một vợ một chồng là quy tắc chặt chẽ trong quan hệ hôn nhân. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình. Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để lo mai táng, ma chay. Người Mnông rất kinh hãi và chối bỏ việc ma chay đối với mọi cái chết do tai nạn gây nên (chết đuối, ngã cây, rắn cắn... và chết do chiến tranh, đâm chém). Những cái chết "bất đắc, kỳ tử" này thì thi hài không được đem vào nhà mà phải mai táng tức khắc một cách thầm lặng. Mọi người chết đều được chia tài sản để mang về "lập nghiệp" ở thế giới của ông bà gọi là Phan. Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi và tập quán pháp ca tiềm ẩn nhiều giá trị đã và đang được khai thác, giới thiệu. Nhạc cụ có cồng chiêng, các loại kèn, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Đặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuyếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa. Người ta đã tìm thấy ở vùng cư trú của người Mnông bộ đàn đá nguyên thuỷ nổi tiếng từ giữa thế kỷ XX.

    16. Dân tộc Ơ-đu

        Dân tộc Ơ-đu sống tập trung tại hai bản Kim Hoà, Xốp Pốt xã Kim Đa, một số sống xen kẽ trong vùng xung quanh thuộc huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An. Người Ơ-đu sinh sống chủ yếu bằng nương rẫy và một phần ruộng nước. Hái lượm và săn bắn vẫn có vị trí quan trọng trong đời sống, chăn nuôi khá phát triển; đan lát các đồ gia dụng bằng giang, mây.

        Quan hệ xã hội, văn hoá chịu ảnh hưởng của người Khơ-mú và người Thái, người Ơ-đu lấy họ theo người Thái, Lào. Họ ở nhà sàn giống như nhà sàn gia đình người Thái. Gia đình theo chế độ phụ quyền, đàn ông quyết định tất thẩy các công việc trong nhà. Hiện nay nam nữ ăn mặc theo kiểu người Thái, người Kinh trong vùng. Những bộ trang phục cổ truyền còn rất ít. Người Ơ-đu tin rằng khi người chết, hồn biến thành ma. Hồn thân thể ngụ tại bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở lại với con cháu một đời theo thứ tự từ con trai cả đến con trai thứ. Khi các con trai đã chết hết, người ta làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà tại góc hồi của gian thứ hai. Bàn thờ đơn giản, treo cao sát mái nhà. Ngày hội lớn nhất là lễ đón tiếng sấm trong năm. Ngày đó cư dân khắp nơi đổ về mở hội tế Trời, mổ trâu, bò, lợn ăn mừng tại bản Xốp Pột xã Kim Đa, huyện Tương Dương, Nghệ An.

    17. Dân tộc Rơ-măm

        Người Rơ-măm cư trú tại làng Le, xã Mo Rai, huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum. Người Rơ-măm sống bằng nghề làm rẫy, trồng lúa nếp là chính, thêm một ít lúa tẻ, ngô và sắn; săn bắn và hái lượm có vai trò quan trọng trong đời sống, nghề đánh cá phát triển. Trong số những nghề phụ gia đình, nghề trồng bông, dệt vải được chú ý phát triển nhất.

        Nhà ở là loại nhà sàn dài, cất kế tiếp xung quanh ngôi nhà chung. Mỗi nóc nhà thường có nhiều bếp, có từ 10-20 người là các thế hệ có quan hệ thân thuộc với nhau; mỗi cặp vợ chồng ở trong một buồng có vách ngăn, với một bếp riêng. Gian chính giữa nhà là nơi tiếp khách. Trong xã hội truyền thống, đàn ông Rơ-măm mặc khố, phía trước thả tới đầu gối, phía sau buông đến ống chân. Phụ nữ quấn váy và ở trần, một số mặc áo cộc tay. Váy và khố đều có màu trắng của vải mộc, không nhuộm. Phụ nữ ưa đeo hoa tai làm bằng ngà voi, nứa hoặc gỗ. Nam nữ thanh niên đều cắt 4 hoặc 6 chiếc răng cửa trên hàm trên, khi bước vào tuổi trưởng thành. Lễ cưới được tổ chức đơn giản, chỉ là bữa ăn uống cộng cảm của dân làng để chứng kiến và chúc mừng bữa ăn chung đầu tiên của cô dâu, chú rể. Sau ngày cưới, đôi vợ chồng trẻ sống bên nhà vợ 4- 5 năm rồi về ở bên nhà chồng hoặc cư trú luân phiên cả hai bên. Khi sinh đẻ, phụ nữ phải kiêng một số thức ăn có nhiều mỡ, từ khi có thai đến tròn ba năm tuổi. Ngày người phụ nữ sinh con, người lạ không được vào, nếu ai vi phạm sẽ bị giữ lại trong nhà đến hết thời gian kiêng cữ và đứa trẻ sẽ được đặt tên trùng với tên người khách lạ. Người Rơ-măm thường dùng trống để báo tin trong nhà có người chết. Việc chôn cất sẽ được tiến hành vào một hai hôm sau. Các ngôi mộ xếp theo hàng lối sao cho mặt người chết không nhìn vào làng. Người Rơ-măm thờ cúng Thần Lúa vào ngày bắt đầu trỉa giống, khi lúa lên đòng, trước ngày tuốt lúa... để cầu mong một mùa rẫy bội thu.

    18. Dân tộc Tà-ôi

        Người Tà-ôi cư trú trên một dải từ tây Quảng Trị (huyện Hướng Hoá) đến tây Thừa Thiên- Huế (huyện A Lưới và Hương Trà). Họ ở quần tụ thành từng làng; nhà sàn dài, trước kia dài có khi trên 100 mét, gồm nhiều cặp vợ chồng cùng các con. Làm rẫy, trồng lúa rẫy là nguồn sống chủ yếu của người Tà-ôi, ruộng nước đã phát triển ở nhiều nơi. Săn bắn, đánh cá, hái lượm đem lại thức ăn đáng kể, nghề dệt chỉ có ở một số nơi.

        Nữ mặc váy ống loại ngắn và áo, hoặc váy loại dài che luôn cả từ ngực trở xuống (ở nhóm Tà-ôi phía biên giới thuộc A Lưới); nam quấn khố mặc áo thường hay ở trần, hiện nay y phục như người Kinh đã thông dụng, nhất là với nam giới. Tục cà răng, xăm trên da và đeo trang sức làm căng rộng lỗ xâu ở dái tai chỉ còn số ít ở các cụ già. Trai gái lớn lên sau khi đã cắt cụt 6 chiếc răng cửa hàm trên thì được tìm hiểu nhau và lấy vợ, lấy chồng; cùng với đám cưới, cô dâu chú rể phải làm lễ "đạp bếp" tại nhà bố mẹ cô gái để đánh dấu từ đó cô ta sẽ thực sự là người nhà chồng, và ít năm sau phải tổ chức lễ tạ ơn "thần linh" đã cho 2 người sống yên ổn với nhau. Việc bói toán và cúng lễ là một phần quan trọng trong đời sống cá nhân cũng như cộng đồng dân làng. Mỗi dòng họ có một bàn thờ ở nhà trưởng họ, mọi gia đình đều có thể tới đó làm lễ cúng khi ốm yếu, gặp rủi ro, cầu khẩn một điều gì đó. Nhiều làng còn thờ cúng chung vật "thiêng" là hòn đá, cái vòng đồng, chiếc ché... Vốn tục ngữ, ca dao, câu đố, truyện cổ khá phong phú. Dân ca có các điệu Calơi, Ba boih, Rơih, Cha chap, với nhiều loại nhạc cụ như cồng chiêng, tù và, khèn 14 ống nứa, sáo 6 lỗ, nhị vừa kéo vừa điều khiển âm thanh bằng miệng, đàn Ta lư.

    19. Dân tộc Xinh-mun

        Người Xinh-mun cư trú ở lưng chừng núi dọc biên giới Việt- Lào, từ huyện Điện Biên, tỉnh Lai Châu đến huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La; là cư dân sinh sống ở đây từ lâu. Họ chuyên trồng lúa trên nương, một số ít làm ruộng; nghề thủ công có đan lát khá phát triển, tạo được nhiều đồ dùng bền và đẹp, có giá trị sử dụng và trao đổi với các dân tộc khác.

        Bản làng gọi là Col, gồm vài chục nóc nhà. Nhà ở kiểu nhà sàn, mái nhà hình mai rùa, hai đầu hồi có cầu thang lên xuống. Trong cưới xin phổ biến tục ở rể. Trước đây, con trai phải ở rể khoảng 8-12 năm hoặc ở rể suốt đời nếu bên vợ không có con trai. Trong lễ cưới đi ở rể, cô dâu, chú rể phải đổi tên của mình để lấy một tên mới chung cho cả hai người. Tên chung này do bố mẹ vợ, ông cậu đặt cho, đôi khi lại phải bói xin âm dương để tìm tên chung. Cô dâu búi tóc ngược lên đỉnh đầu biểu hiện là người con gái đã có chồng. Tiếng súng trong nhà báo hiệu có người chết, cùng lúc đó, người con trai ném ông đầu rau (ông Táo) vào nơi thờ cúng tổ tiên bày tỏ một sự giận dữ truyền thống. Mọi kiêng kỵ hàng ngày của gia đình cũng như của người con rể nay được huỷ bỏ. Người Xinh-mun không dùng quan tài gỗ mà chỉ bó cót. Chọn đất đào huyệt bằng cách ném trứng trên khu đất định sẵn, trứng vỡ ở đâu thì huyệt được đặt ở đó. Nhà mồ được làm cẩn thận, có đủ thứ cần thiết tượng trưng cho người chết. Người Xinh-mun không có tục cải táng và tảo mộ. Thờ cúng tổ tiên hai đời, bố mẹ và ông bà; cúng vào các dịp cơm mới, đám cưới, nhà mới. Bố mẹ vợ được thờ riêng ở một chiếc lán nhỏ, bên cạnh nhà, cơm nước cúng được nấu ở ngoài nhà. Lễ cúng bản hàng năm rất được coi trọng. Người Xinh-mun thích hát và múa vào các dịp tết lễ, ngay trên nhà; Trai gái, nam nữ hát đối với nhau rất tự nhiên.

    20. Dân tộc Xơ-đăng

        Dân tộc Xơ-đăng sinh sống tập trung ở tỉnh Kon Tum và ở hai huyện Trà Mi, Phước Sơn tỉnh Quảng Nam; huyện Sơn Tây, tỉnh Quảng Ngãi; sống tập trung nhất ở vùng quần sơn Ngọc Linh. Họ ở nhà sàn, trước kia nhà dài, thường cả đại gia đình ở chung, nay phổ biến hình thức tách hộ ở riêng. Nhà ở trong làng được bố trí theo tập quán từng vùng: có nơi quây quần vây quanh nhà Rông ở giữa, có nơi dựng lợp ngang triền đất và không có nhà Rông. Từng làng có đời sống tự quản, đứng đầu là một già làng có uy tín. Kinh tế chủ yếu là làm nương rẫy, một bộ phận trồng lúa nước, điển hình là nhóm Mnâm. Vùng người Ca Dong có trồng quế. Việc hái lượm, săn bắn có ý nghĩa không nhỏ; nghề dệt vải có ở nhiều vùng. Nghề rèn phát triển ở nhóm Tơ Đrá, họ biết chế sắt từ quặng để rèn. Một số người Xơ Đăng đã biết đãi vàng sa khoáng. Đan lát phát triển tinh xảo, cung cấp nhiều vật dụng.

        Nam đóng khố, ở trần. Nữ mặc váy, áo. Trời lạnh họ dùng tấm vải choàng người. Trước kia, nhiều nơi người Xơ-đăng phải dùng y phục bằng vỏ cây, nay nam nữ thường mặc quần áo như người Việt. Về cưới xin, phong tục ở các vùng không hoàn toàn giống nhau. Song phổ biến là cư trú luân phiên mỗi bên mấy năm, thường khi bố mẹ qua đời mới ở hẳn một chỗ. Đám cưới có lễ thức cô dâu chú rể đưa đùi gà cho nhau ăn, đưa rượu cho nhau uống, cùng ăn một nắm cơm... để tượng trưng cho sự gắn kết hai người. Người Xơ-đăng thờ nhiều thần tự nhiên, lễ tết quan trọng nhất là lễ cúng Thần Nước vào dịp sửa máng nước hàng năm. Người Xơ-đăng có nhiều loại nhạc cụ: đàn nhị, sáo dọc, đàn vỗ Kloongbút, chiêng, cồng, tù và.... Truyện cổ Xơ-đăng phong phú và đặc sắc.

    21. Dân tộc Xtiêng

        Người Xtiêng phân bố tập trung ở tỉnh Bình Phước, một số ở Bình Dương, Tây Ninh và Đồng Nai. Làng bản xưa kia thường chuyển theo nương rẫy, quanh làng rào kín để chống sự phá hoại của thú rừng. Ngày nay định cư. Thường có tục "cấm làng", những ngày đó cấm khách lạ vào làng và kiêng mọi hoạt động như xay giã thóc gạo, di chuyển đồ vật, nhất là cối giã gạo, ché rượu, càng im ắng bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Kinh tế chủ yếu là làm rẫy (nhóm Bù Lơ) và làm ruộng (nhóm Bù Đéc). Nghề phụ có dệt vải nhưng ít và thô sơ.

        Thông thường, đàn ông đóng khố, ở trần, đàn bà mặc váy hoặc ở trần quấn váy. Trước kia, phụ nữ nghèo ở nhiều nơi cũng dùng khố. Họ ưa đeo nhiều trang sức, có khi một cánh tay đeo tới trên 20 chiếc vòng nhôm hay bạc, có cả loại vòng ống quấn từ sợi dây đồng dài ôm quanh ống chân, ống tay. Loại hoa tai lớn bằng ngà voi được ưa chuộng. Nay, nam giới mặc như người Kinh, nữ hay dùng áo cánh, sơ mi. Trong hôn lễ có tục buộc chỉ vào cổ tay đôi vợ chồng để cầu nguyện cho họ giàu có và con đàn cháu lũ. Sau lễ cưới cô dâu về nhà chồng nếu như nhà trai đã có đủ đồ dẫn cưới theo yêu cầu của nhà gái. Khi có người mới chết, cả làng không gõ cồng chiêng và không vui nhộn trong khoảng 10 ngày. Người Xtiêng có nhiều lễ cúng khác nhau trong đời sống, trong đó lễ hội đâm trâu là lớn nhất. Người Xtiêng rất yêu âm nhạc. Nhạc cụ quan trọng nhất đồng thời là một trong những gia tài quý ở xã hội truyền thống là cồng và chiêng. Nhóm Bù Lơ chủ yếu dùng chiêng, mỗi bộ 6 chiếc, nhóm Bù Đék chủ yếu dùng cồng, mỗi bộ 5 chiếc. Người Xtiêng cũng có kho tàng truyện cổ khá phong phú, có những điệu hát của mình. Tuy nhiên, đến nay, tương tự như nhiều nơi khác, ngay cả cồng chiêng cũng chỉ còn rất ít so với xưa kia.

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 58,953,138


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs