Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Phát triển vùng nguyên liệu chè Shan Tuyết Hòa Bình còn nhiều thách thức

 13/04/2006

Cán bộ dự án hướng dẫn bà con hái chè

Chè Shan Tuyết được đồng bào Mông ở các xã Hang Kia, Pà Kò (huyện Mai Châu) và Nong Luôn (Đà Bắc) tỉnh Hoà Bình trồng cách đây vài chục năm, chủ yếu để sử dụng lá, búp nấu nước uống hoặc sao chế làm thuốc phục vụ nhu cầu trong gia đình. 

Vị thế cây chè Shan ở Hoà Bình chưa được khẳng định và “nức tiếng” như chè Mộc Châu, chè Yên Bái, Hà Giang, Thái Nguyên.. nhưng một số thương lái từ Bắc Giang, Hưng Yên... vẫn tìm đến mua chè Shan búp tươi, với giá 5 - 6000 đồng/kg; chè khô 70 -75.000 đồng/kg. Thấy được giá trị kinh tế của cây chè Shan Tuyết, nhiều hộ gia đình đã tự nhân giống, phát triển đồi chè, nhưng do thiếu vốn đầu tư chăm sóc, thiếu kinh nghiệm ươm trồng nên tỷ lệ hạt chè nảy mầm không cao, đồi chè chậm phát triển. Để giúp bà con các xã đặc biệt khó khăn phát triển vùng nguyên liệu chè Shan, Chi cục Định canh Định cư & Vùng Kinh tế mới (Chi cục ĐCĐC&VKTM) tỉnh Hoà Bình đã xây dựng đề án: “Quy hoạch và phát triển vùng chè Shan Tuyết tỉnh Hoà Bình giai đoạn 1999- 2010”; được Uỷ ban tỉnh phê duyệt giao cho Chi cục ĐCĐC&VKTM chỉ đạo 4 huyện vùng cao gồm Đà Bắc, Mai Châu, Tân Lạc và Lạc Sơn phát triển 1000 ha chè Shan, (trong đó trồng mới 940 ha, chăm sóc phục hồi 60 ha). Số chè trồng mới được bố trí trên diện tích: 100 ha đất nương; 325 ha đất trống và 515 ha đất rừng nghèo. Xây dựng 325 cụm máy chế biến chè, trong đó Đà Bắc (177 cụm), Mai Châu (52 cụm), Lạc Sơn (32 cụm), Tân Lạc (64 cụm). Giai đoạn I của dự án (từ năm 1999- 2005), tỉnh giao vốn 19 tỷ 839 triệu đồng từ nguồn vốn lồng ghép Chương trình Mục tiêu quốc gia về xoá đói giảm nghèo và dự án Ổn định phát triển sản xuất nông- lâm gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm (thuộc Chương trình 135) để hỗ trợ bà con mua cây giống, phân bón, máy sấy... Hơn 3000 hộ đồng bào HMông, Tày, Dao... tại 20 xã vùng đặc biệt khó khăn đã tham gia vào dự án này.
Chi cục ĐCĐC liên hệ với Công ty TNHH Phương Huyền cung ứng đủ số lượng giống để bà con trồng kịp vào thời điểm khí hậu thích hợp nhất (tháng 9-10 hàng năm). Ông Lê Ngọc Quản, Chi cục Trưởng Chi cục ĐCĐC&VKTM Hoà Bình cho biết: “Trong 3 năm đầu triển khai dự án (1999-2001), bà con sử dụng giống chè ươm hạt đã trồng được 104,3 ha. Rút kinh nghiệm trồng hạt phát triển chậm, độ thuần giống không cao, nên từ năm 2002 đến nay, chúng tôi hướng dẫn bà con sử dụng phương pháp ươm hom (dâm cành) để tránh hiện tượng phân ly cho cây chè. Qua 7 năm triển khai dự án, 4 huyện vùng cao Hoà Bình đã trồng và chăm sóc 479,73 ha chè Shan, trong đó, có 40 ha trồng năm 1999- 2000 tại các xã Pà Cò (Mai Châu), Ngổ Luông, Quyết Chiến (Tân Lạc), Cao Sơn (Đà Bắc) đã có sản phẩm thu hoạch, tạo thu nhập cho bà con. Tại xã Yên Hoà (Đà Bắc), Công ty Phương Việt đã đầu tư xây dựng 1 xưởng chế biến chè công suất 1000 kg/ngày bao tiêu sản phẩm cho bà con. 18 cụm máy chế biến mini (Dự án hỗ trợ) được bố trí rải rác tại nhiều vùng nguyên liệu. 

Tuy nhiên, để hoàn thành chỉ tiêu, kế hoạch đề ra đến năm 2010, (20 xã trong vùng dự án sẽ phát triển vùng nguyên liệu chè Shan lên 1000 ha; xây dựng được 325 cụm chế biến chè) Hoà Bình còn gặp rất nhiều thách thức. Đến nay, dự án đã đi được gần 2/3 chặng đường nhưng Hoà Bình mới đạt 47% chỉ tiêu kế hoạch trồng 05% chỉ tiêu kế hoạch xây dựng cụm chế biến nguyên liệu. Nhiều diện tích chè trồng mới bằng phương pháp dâm cành đã bị chết do đồng bào trồng và chăm sóc không đúng thời vụ, hoặc không bảo vệ, chăm sóc sóc cây chè con chu đáo, để trâu bò phá hoại (xã Yên Hoà, Đồng Ruộng, Nam Sơn). Thậm chí một số hộ sau khi trồng chè lại cày đất trồng ngô, sắn...dẫn tới mất diện tích chè. Công tác bao tiêu sản phẩm cho bà con cũng gặp nhiều khó khăn do số diện tích chè đã cho thu hoạch manh mún, không tập trung, đường xá giao thông còn khó khăn, công tác quảng bá thương hiệu còn lúng túng... 

Bài và ảnh: Cao Nguyên

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Nhức nhối nạn phá rừng (04/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,926,614


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs