Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Thực hiện Pháp lệnh dân số ở Kon Tum

 13/04/2006

Hạnh phúc của người mẹ

Được tái lập vào tháng 10 năm 1991, với tổng diện tích tự nhiên 9614,4 km2, dân số 489.778 người với 70% là đồng bào dân tộc thiểu số. Mặc dù có tiềm năng về đất đai và tài nguyên rừng, nhưng Kon Tum vẫn là tỉnh nghèo, chậm phát triển. Để khai thác tiềm năng, Kon Tum cần có một số dân phù hợp. Vì vậy, việc tăng dân số để có thêm nguồn lao động là điều hợp lý. Vấn đề đặt ra là Kon Tum phát triển dân số bằng con đường nào?

Từ khi ban hành Pháp lệnh dân số không ít người hiểu chưa đúng nên khi thi hành Pháp lệnh đã vấp phải khó khăn, hoặc một số “cố tình hiểu sai”. Vì thế, không ít cán bộ chủ chốt cấp tỉnh, huyện cố ý đẻ con thứ 3, hoặc những gia đình có con 1 bề thì cố gắng sinh thêm với hy vọng có được con trai.

Có thể nói, chương trình DS-KHHGĐ đã có những tác động tích cực đến quy mô gia đình truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh. Mô hình gia đình đông con ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số đang dần dần được thay thế bởi mô hình gia đình ít con. Nhờ vậy, đến năm 2005 tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên giảm xuống còn 29,8% so với năm 1993 là 43,6%, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ trên địa bàn tỉnh đã giảm xuống còn 3,23 con so với năm 1993. Theo số liệu báo cáo của Uỷ ban Dân số – KHHGĐ các huyện, thị xã, đến cuối năm 2005, toàn tỉnh đã có 1.121 ca triệt sản nam (trước năm 1993 không có ca triệt sản nam nào); số người sử dụng bao cao su là 4.564 người. Kết quả trên cho thấy, nhận thức của nam giới về DS-KHHGĐ đã tăng lên theo xu hướng tích cực. Nhiều gia đình đã hiểu đông con là khổ, thực hiện gia đình ít con để góp phần xoá đói, giảm nghèo, từng bước cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tuy nhiên, những chuyển biến này chưa thực sự vững chắc. So với cả nước, Kon Tum là tỉnh hiện đang có mức sinh cao. Trong khi đó, ở khu vực đồng bào dân tộc thiểu số, dù theo thiết chế mẫu hệ hay phụ hệ, đều tồn tại tư tưởng “có nếp, có tẻ”, “trời sinh voi, sinh cỏ”... Đây là một trong những nguyên nhân làm cho các cặp vợ chồng mặc dù đã có nhiều con vẫn muốn sinh thêm. Mặt khác, do điều kiện chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở vùng sâu, vùng xa còn hạn chế cộng thêm thiếu kiến thức về chăm sóc sức khoẻ sinh sản, nuôi dạy con không theo khoa học làm nảy sinh tư tưởng “đẻ bù” để tránh tình trạng “hữu sinh vô dưỡng”. Ngoài ra, trên 40% số dân của tỉnh có sinh hoạt tôn giáo, các nguyên tắc ràng buộc của giáo lý tôn giáo là một lực cản lớn trong vấn đề thực hiện kế hoạch hoá gia đình.

Sự ra đời của Pháp lệnh dân số và Nghị định 104/2003/NĐ-CP của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh dân số đã tạo điều kiện thuận lợi về mặt pháp lý cho công tác dân số. Với mục tiêu duy trì vững chắc xu thế giảm sinh nhằm đạt được mức sinh thay thế bình quân cả tỉnh vào năm 2010, Kon Tum đang tiếp tục thực hiện các biện pháp giảm sinh, (đặc biệt là giảm số người sinh con thứ 3 trở lên). Để làm được điều này, Kon Tum đang nỗ lực xã hội hoá công tác dân số, coi công tác dân số là nhiệm vụ của toàn dân. Bên cạnh đó, gắn hiệu quả thực hiện công tác dân số, chăm sóc SKSS-KHHGĐ với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội khác của tỉnh, đồng thời tập trung nguồn lực, ưu tiên đầu tư cho công tác này ở những vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người đang còn nhiều khó khăn. Ngoài ra, củng cố và nâng cao hiệu quả hoạt động của mạng lưới cung cấp dịch vụ chăm sóc SKSS-KHHGĐ, từng bước đáp ứng, thoả mãn nhu cầu dịch vụ cho các đối tượng đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt địa bàn vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Có như vậy mới giúp cho các cặp vợ chồng yên tâm với số con đã chọn cũng như biện pháp tránh thai an toàn mà họ đang sử dụng./.

Bài và ảnh: Lan Ngọc

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Mô hình hùn vốn xây dựng nhà ở (04/2006)
  •  
  • Ổn định quy mô dân số dưới 89 triệu người vào năm 2010 (04/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 59,913,955


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs