Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Đồng bào các dân tộc Gia Lai mãi khắc sâu lời dạy của Bác Hồ

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quí báu của dân tộc ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước. Ngay từ khi mới ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn giương cao ngọn cờ đại đoàn kết, tập hợp mọi giai cấp, mọi tầng lớp và mọi thành phần xã hội… tạo thành sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc để phấn đấu cho mục tiêu chung: Đánh đổ đế quốc, phong kiến, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tháng 8/1945, tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước, Nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà được thành lập. Ngay sau đó, thực dân Pháp núp dưới chiêu bài quân Đồng minh nhảy vào nước ta để áp giải quân Nhật, nhưng thực tế nhằm xâm lược nước ta một lần nữa, thực dân Pháp đã câu kết với các tổ chức, đảng phái phản động ở trong nước tiến hành các hoạt động để lật đổ chính quyền non trẻ, tình thế cách mạng của đất nước ta như “ngàn cân treo sợi tóc”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với tinh thần “Dân tộc trên hết”, “Tổ quốc trên hết” nhân dân ta đã cùng lúc thực hiện nhiều nhiệm vụ lớn để chống các thế lực phản động trong và ngoài nước, củng cố chính quyền nhân dân, xây dựng chế độ mới, thực hiện người cày có ruộng, diệt giặc đói, diệt giặc dốt. Từng bước ổn định đời sống nhân dân, củng cố độc lập dân tộc, chuẩn bị lực lượng để trường kỳ kháng chiến.

Trong bối cảnh đó, Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam được tổ chức tại Plâyku ngày 19/4/1946 để bày tỏ sự đoàn kết thống nhất của nhân dân các dân tộc thiểu số miền Nam luôn hướng về Đảng, Chính phủ và Bác Hồ kính yêu, bày tỏ quyết tâm kháng chiến chống thực dân, đế quốc giữ vững nền độc lập của đất nước. Vì lý do đặc biệt, Bác Hồ không vào dự được, nhưng với trách nhiệm và tình cảm của một vị đứng đầu Chính phủ, Bác đã gửi thư cho Đại hội. Thư tuy ngắn song chứa đựng những nội dung cực kỳ sâu sắc và quan trọng; Người nói lên những tình cảm thiết tha của Người và của Chính phủ đối với đồng bào dân tộc thiểu số miền Nam nói chung, Tây Nguyên nói riêng; Người đề ra những quan điểm cơ bản của Đảng và Nhà nước ta đối với các dân tộc thiểu số, mối quan hệ anh em ruột thịt giữa các dân tộc cùng chung sống trên đất nước Việt Nam cũng như trách nhiệm của các dân tộc đối với Chính phủ.

Mở đầu bức thư, Người khẳng định một chân lý tuyệt đối để phản bác lại những luận điệu tuyên truyền phản động của kẻ thù. Người viết: “…Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay ÊĐê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau.

Trước kia chúng ta xa cách nhau, một là vì thiếu dây liên lạc, hai là vì có kẻ xúi giục để chia rẽ chúng ta.

Ngày nay nước Việt Nam là nước chung của chúng ta. Trong Quốc hội có đủ đại biểu các dân tộc. Chính phủ có “Nha Dân tộc thiểu số” để săn sóc cho tất cả đồng bào…”.

Chính vì vậy, Người đề ra nhiệm vụ cấp bách cho cả dân tộc ta lúc bấy giờ là: “Giang sơn và Chính phủ là Giang sơn và Chính phủ chung của chúng ta. Vậy nên tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta”.

Kết thúc bức thư, Người thiết tha kêu gọi: “Chúng ta phải thương yêu nhau, phải kính trọng nhau, phải giúp đỡ nhau để mưu cầu hạnh phúc chung của chúng ta và con cháu chúng ta.

Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt. Chúng ta quyết góp chung lực lượng lại để giữ vững quyền tự do, độc lập của chúng ta”.

Làm theo lời căn dặn của Người, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng bộ tỉnh, suốt 30 năm tiến hành cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, với tinh thần đoàn kết chiến đấu không ngừng, không nghỉ; đồng bào, cán bộ và chiến sĩ hoạt động trên chiến trường Gia Lai đã nêu cao ý chí kiên cường, bất khuất trước quân thù, tỏ rõ tấm lòng thuỷ chung, son sắt đối với cách mạng, một lòng tin yêu Bác Hồ, tin yêu Đảng.
Chính ý chí, tấm lòng và niềm tin ấy đã giúp đồng bào và chiến sĩ vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, lập nên những chiến công lừng lẫy. Đã xuất hiện những người con ưu tú, những chiến công của họ đã đi vào lịch sử qua những trang sách, lời ca và mãi mãi không bao giờ phai mờ như Anh hùng Núp, Anh hùng Wửu; Anh hùng Kpakơlơng, Anh hùng A Sanh và còn biết bao các anh hùng, liệt sĩ khác mà chúng ta không thể kể hết được… Sự hy sinh cao cả của đồng bào, đồng chí là người dân tộc thiểu số tại địa phương và của cả đồng bào, đồng chí từ mọi miền đất nước đến Gia Lai hiến dâng xương máu, tuổi thanh xuân cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Những chiến công và sự hy sinh to lớn đó tiêu biểu cho tình đoàn kết keo sơn giữa các dân tộc, cho ý chí “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.

Sau 30 năm giải phóng, từ một nền kinh tế du canh du cư, cơ sở hạ tầng kinh tế và xã hội nghèo nàn lạc hậu, số người phải cứu đói hơn 50.000 người, nhưng dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, đồng bào các dân tộc trong tỉnh đã không ngừng phát huy tinh thần đoàn kết, hàn gắn vết thương chiến tranh, truy quét bọn phản động Fulro, xây dựng đời sống mới, xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội Đảng bộ tỉnh đã đề ra qua các nhiệm kỳ làm cho Gia Lai ngày càng giàu mạnh. Đời sống vật chất và tinh thần của đại bộ phận nhân dân các dân tộc trong tỉnh đã được cải thiện rõ rệt, bộ mặt từ nông thôn đến thành thị có nhiều biến đổi sâu sắc.

Chất lượng giáo dục, khám chữa bệnh, thực hiện các chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, xoá đói giảm nghèo được quan tâm và có thêm nhiều thành tựu mới. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng căn cứ cách mạng tiếp tục được cải thiện.

Quốc phòng - an ninh được giữ vững và ổn định; lòng dân đã yên hơn sau những sự kiện chính trị - xã hội phức tạp.

Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên được tăng cường. Hiệu lực quản lí, điều hành của chính quyền các cấp có nhiều tiến bộ. Mặt trận và đoàn thể đã tập trung hướng về cơ sở, khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố và phát huy.

Có được những thành tựu như hôm nay chính là sự đoàn kết nhất trí cao trong toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh. Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh, sự đoàn kết, thống nhất keo sơn của các dân tộc anh em trên mảnh đất Gia Lai ngày càng được củng cố và phát triển, đó chính là động lực to lớn cho chúng ta xây dựng và phát triển tỉnh nhà được như hôm nay, đồng bào Kinh - Thượng, lương - giáo yêu thương đùm bọc lẫn nhau, cùng xây dựng cuộc sống, xây dựng quê hương, góp phần tích cực cùng cả nước xây dựng một đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh.

Để không ngừng tăng cường và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân trong tỉnh vững mạnh, rộng khắp, phát huy sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII đề ra trong nhiệm kỳ 2005 - 2010 là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên; phát huy dân chủ, xây dựng chính quyền, mặt trận và các đoàn thể vững mạnh toàn diện; tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ; công khai tiềm năng lợi thế, vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, tạo sự phát triển năng động, có tốc độ tăng trưởng cao và bền vững; cải thiện rõ nét đời sống vật chất, văn hoá và tinh thần các tầng lớp nhân dân, phấn đấu để sớm trở thành một tỉnh giàu về kinh tế, vững mạnh về quốc phòng - an ninh, chính trị ổn định, văn hoá - xã hội phát triển, phồn vinh” các cấp uỷ Đảng, các cấp chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội cùng đồng bào các dân tộc trong tỉnh cần thực hiện tốt những việc sau đây:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng trong việc tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2005-2010, tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Khoá IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Tăng cường công tác phối hợp đồng bộ giữa Mặt trận và các tổ chức thành viên, tạo sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của tỉnh. Kết hợp chặt chữ giữa phát triển kinh tế - xã hội với công tác củng cố hệ thống chính trị vững mạnh, nhất là ở cơ sở, buôn - làng.
Hai là, các cấp uỷ Đảng, Mặt trận và các đoàn thể chính trị xã hội cần đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống cách mạng, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái giúp đỡ nhau của các dân tộc trong tỉnh nói riêng và của đồng bào cả nước nói chung; tổ chức học tập, thảo luận thư của Bác Hồ gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam năm 1946; tổ chức quán triệt, tuyên truyền sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân (kể cả ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào Kinh, vùng đồng bào có đạo) về tư tưởng phát huy sức mạnh tổng hợp khối đại đoàn kết toàn dân tộc, về chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Tăng cường công tác vận động quần chúng, vạch trần bản chất, âm mưu thủ đoạn của bọn phản động Fulro, kiên quyết xoá bỏ ảnh hưởng của tư tưởng bài Kinh, ly khai của tổ chức phản động Tin lành Đề-ga ra khỏi đời sống của một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba là, các cấp chính quyền, các ngành cần cụ thể hoá và thực hiện nghiêm túc chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước. Chăm lo phát triển kinh tế - xã hội không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân nói chung, nhất là của đồng bào vùng sâu, vùng xa, biên giới, vùng căn cứ cách mạng, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đồng bào có đạo. Kiên quyết xử lý những cán bộ vi phạm chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước.

Bốn là, thường xuyên đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, các hội quần chúng phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Hướng mọi hoạt động về cơ sở với phương châm: Thiết thực, đáp ứng lợi ích chính đáng của các giai tầng xã hội, của đoàn viên, hội viên và của người dân.

Năm là, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, lập thành tích cao nhất chào mừng Đại hội Đại đoàn kết các dân tộc Tây Nguyên được tổ chức tại Plâyku ngày 28-29/3/2006 và chào mừng Đại hội X của Đảng. Quyết tâm đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và phong trào “Vì người nghèo” lên tầm cao mới. Khơi dậy trong các dân tộc tinh thần yêu nước, truyền thống đoàn kết, ý thức tự lực, tự cường không trông chờ ỷ lại, tự mình vươn lên xoá đói giảm nghèo, làm giàu chính đáng; bảo vệ, duy trì và phát triển bản sắc văn hoá các dân tộc trong tỉnh.

Mỗi đại biểu tham dự Đại hội, khi về địa phương, cơ sở cần tuyên truyền cho bà con dân làng mình, về kết quả Đại hội và Quyết tâm thư của Đại hội, đi đầu, kiên trì, vận động bà con, dân làng tin tưởng vào Đảng, vào Nhà nước, vào Bác Hồ son sắt như những năm kháng chiến trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng đất nước mấy chục năm vừa qua. Mạnh dạn phản bác những luận điệu xấu của bọn phản động Fulro, bọn phản động và tội phạm khác. Không nghe, không tin, không theo bọn xấu, cùng nhau đoàn kết xây dựng cuộc sống mới, làm giàu cho bản thân, cho gia đình và cho buôn làng mình, góp phần làm giàu cho xã, cho huyện, cho tỉnh và cho đất nước, để thực hiện thắng lợi mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Ksor Nham
Phó Bí thư Tỉnh ủy
Chủ tịch HĐND tỉnh Gia Lai

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,868


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs