Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Thư của Bác Hồ với lời của người cha với cháu con

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, thời kỳ nào cũng có những anh hùng hào kiệt, làm vẻ vang cho non sông đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người được toàn dân ta gọi bằng cái tên thân kính: Bác Hồ là một trong những vị “anh hùng dân tộc vĩ đại” trong lịch sử đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc và Người còn là nhà tư tưởng lớn, một Danh nhân Văn hoá của Việt Nam và thế giới.

Bác Hồ kính yêu của chúng ta là một nhà tư tưởng lớn. Những tư tưởng lớn của Bác Hồ thể hiện rõ nhất qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ cũng như trong hơn 30 năm toàn dân ta thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, vấn đề đoàn kết luôn là tư tưởng xuyên suốt quá trình đấu tranh cách mạng. Đoàn kết với nhân dân thế giới, đoàn kết với các dân tộc anh em, đoàn kết với mọi tầng lớp thành phần trong xã hội là mục tiêu cao cả, là điều kiện tiên quyết để hoàn thành mọi nhiệm vụ và lý tưởng mà sứ mệnh lịch sử đã giao phó cho. Chính vì lẽ đó, trong bức thư Bác Hồ gửi “Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam” họp tại Plâyku ngày 19/4/1946 Người đã nêu bật ý nghĩa trên. Bức thư chứa đựng nội dung chính là kêu gọi đoàn kết. Ngôn từ nhẹ nhàng, tình cảm toát lên sự ân cần, nhắc nhở, động viên tha thiết, đó cũng là chỉ thị của Bác, của Đảng, Chính phủ đến toàn thể cán bộ, đảng viên và đồng bào miền Nam nói chung, đồng bào các dân tộc Tây Nguyên nói riêng. Có đoàn kết tốt thì chúng ta mới có sức mạnh để chiến thắng kẻ thù, giành độc lập tự do và hạnh phúc cho nhân dân, cho Tổ quốc.

Ngay từ những dòng đầu của bức thư Bác đã đề cập đến sự gắn bó tình cảm cộng đồng các dân tộc, một tình cảm keo sơn không gì chia tách được: “Hôm nay đồng bào khai hội, sum họp một nhà thật là vui vẻ”.

Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam đã diễn ra trong không khí tưng bừng phấn khởi, nhất là khi đón nhận những tin chiến thắng lớn từ các chiến trường trong năm 1945… Từ miền xuôi đến miền ngược, chúng ta đã phối hợp được các lực lượng, tổ chức tốt việc xây dựng cơ sở và tiến hành chiến tranh nhân dân thắng lợi, giành chính quyền từ tay thực dân Pháp, phát xít Nhật và bè lũ tay sai bán nước… Đại hội đã đón nhận hơn 1.000 đại biểu các dân tộc Tây Nguyên và miền núi các tỉnh đồng bằng Trung bộ về dự. Đây là dịp hội ngộ của đồng chí, đồng đội ở nhiều địa bàn cách xa trong thời kỳ kháng chiến gian khổ ác liệt. Đại hội như ngôi nhà lớn để anh em, con cháu sum họp, Bác là lãnh tụ tối cao, là người Cha già vô cùng gần gũi thân thương đã gửi tình cảm thân mật của mình qua những dòng chữ mộc mạc: “Tiếc vì đường sá xa xôi, tôi không thể đến dự được…”, song Bác vẫn khẳng định niềm tin tuyệt đối với đồng bào các dân tộc thiểu số miền Nam, với đồng bào Tây Nguyên: “Lòng tôi và Chính phủ vẫn gần gũi đồng bào…”. Đại hội tiến hành dù không có Bác dự nhưng nhân dân Tây Nguyên luôn như thấy hình bóng Bác, niềm xúc động dâng tràn, tình cảm chứa chan từ bức thư của Bác đã tạo nên động lực và sự quyết tâm lớn trong mỗi hành động thi đua công tác, lao động sản xuất cũng như trong sự nghiệp đấu tranh cách mạng.

Điều sâu sắc và tâm đắc qua bức thư là hình ảnh các dân tộc anh em từ Nam chí Bắc đoàn kết gắn bó, gánh chia gian khổ, lo cho nhau từ miếng cơm manh áo… Vì điều kiện chỉ gói gọn trong bức thư ngắn, Bác không thể liệt kê hết các dân tộc anh em trên đất nước ta, nhưng đôi dòng tâm huyết điểm qua cũng chứa đựng ý nghĩa to lớn về vấn đề đoàn kết các dân tộc. Đó cũng chính là lời khuyên dạy của người cha đối với anh em, con cháu ruột thịt trong gia đình: “… Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau…”. Đây cũng là cái cốt lõi truyền thống đạo lý ngàn đời của nhân dân Việt Nam, thể hiện qua câu ca dao: “Anh em như thể tay chân/ Rách lành đùm bọc, khó khăn đỡ đần”.

Thực tế lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã chứng minh một cách hùng hồn qua mấy ngàn năm. Và ngay trong buổi đầu kháng chiến chống thực dân Pháp - phát xít Nhật giành chính quyền về tay nhân dân, các dân tộc anh em luôn kề vai sát cánh đoàn kết một lòng theo Đảng, Bác Hồ; luôn đùm bọc giúp đỡ nhau vượt qua mọi khó khăn gian khổ, phấn đấu vì mục tiêu độc lập, tự do cho đất nước. Chúng ta đã có chính quyền dân chủ nhân dân thật sự, có đất nước, Chính phủ chung, có Quốc hội gồm nhiều đại biểu các dân tộc. Chính phủ có “Nha dân tộc thiểu số” để săn sóc tất cả đồng bào… ý nghĩa đoàn kết luôn được Bác đề cập, nhấn mạnh trong toàn bộ nội dung bức thư: “Giang sơn và Chính phủ là giang sơn và Chính phủ của chúng ta. Vậy nên tất cả các dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ nước non ta, để ủng hộ Chính phủ ta.”.

Trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, nhân dân ta đã giành được chính quyền. Nhưng nếu không tiếp tục gắn bó đoàn kết để giữ vững nền độc lập và sự nghiệp xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa thì mọi sự phấn đấu gian khổ của chúng ta như muối bỏ bể, đất nước sẽ gặp lâm nguy, vì kẻ thù không bao giờ chịu từ bỏ dã tâm xâm lược. Để giữ vững nền độc lập, tự do của Tổ quốc, giữ vững chính quyền nhân dân và mưu cầu hạnh phúc cho tương lai con cháu, chúng ta phải tăng cường đoàn kết, hết lòng thương yêu nhau, phải kính trọng nhau và giúp đỡ lẫn nhau. Sự ân cần dặn dò của Bác đã toát lên ý nghĩa sâu sắc về đạo lý truyền thống và tính nhân văn cao cả. Một tình cảm hết sức gần gũi lắng đọng truyền vào máu thịt, con tim, in đậm sâu vào trí nhớ, khiến cho mỗi người dân Tây Nguyên, không bao giờ quên, dù thời gian đã 60 năm trôi qua…

Chân lý được Bác kết luận trong bức thư như một cẩm nang trong đời sống, chính là sự đoàn kết. Mọi sự có thể thay đổi theo tiến trình đi lên của lịch sử, mọi sự có thể thay cũ đổi mới, nhưng mục tiêu, chí hướng lý tưởng và sự đoàn kết sẽ là duy nhất. “… Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng lòng đoàn kết của chúng ta không bao giờ giảm bớt…”.

Từng chữ, từng câu qua bức thư ngắn gọn, mộc mạc và chân chất một tình cảm đại gia đình nên rất dễ hiểu và nhớ lâu, có sức nặng hơn cả chục văn bản, sắc lệnh… Chính vì thế, suốt trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc xâm lược nhân dân Tây Nguyên luôn ý thức tinh thần độc lập và sự giải phóng dân tộc thoát khỏi ách ngoại xâm, một lòng theo cách mạng, theo Đảng, Bác đến cùng. Khắp nơi xuất hiện hàng trăm, hàng ngàn tấm gương tiêu biểu anh hùng, chiến sĩ thi đua rộ lên theo mùa chiến thắng.

Nghĩ về Bác, nghĩ về Đảng và làm theo lời Bác dạy, bao đồng bào các dân tộc Tây Nguyên đem hết sức mình trau dồi học tập và cống hiến cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trước đây, cũng như sự nghiệp xây dựng Tổ quốc, xây dựng quê hương Tây Nguyên sau ngày giải phóng. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, công cuộc cách mạng xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong tình hình mới có nhiều diễn biến phức tạp, bài học về đoàn kết của Bác vẫn luôn là tâm điểm. Chỉ có đoàn kết tốt thì mọi hành động mới có sức mạnh và bền vững, làm bất cứ việc gì dù lớn hay nhỏ cũng phải thực hiện đoàn kết… Càng việc lớn càng phải hình thành mặt trận đoàn kết thống nhất. Đại đoàn kết là đoàn kết gắn bó những người thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau, dân tộc khác nhau, nhưng cùng chung quyết tâm đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, đồng tâm, quyết chí xây dựng đất nước mạnh giàu.

Siu Pơi

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,697,645


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs