Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn ở Bắc Giang. Kết quả và những vấn đề đặt ra

Bắc Giang là tỉnh miền núi phía Bắc được tái lập vào năm 1997. Vùng đặc biệt khó khăn của tỉnh có 475 thôn, bản thuộc 44 xã, với diện tích tự nhiên 175.101 ha, chiếm 45,8% tổng diện tích tự nhiên của toàn tỉnh. Trong đó, đất nông nghiệp 21.753 ha, đất lâm nghiệp 76.511 ha, đất chuyên dùng 24.780 ha, đất chưa sử dụng 52.057 ha; bình quân diện tích đất canh tác rất thấp, khoảng 200 m2/người. Dân số của vùng trên 200 ngàn người, chiếm gần 13% dân số toàn tỉnh; trong đó có trên 50% là người dân tộc thiểu số.

Vào thời điểm năm 2000, kinh tế vùng đặc biệt khó khăn ở Bắc Giang cơ bản vẫn là tiểu nông, chậm phát triển; năng suất, sản lượng cây trồng, vật nuôi đạt thấp; bình quân lương thực 184 kg/người/năm, bằng 54% mức bình quân toàn tỉnh. Sản xuất công nghiệp gần như chưa có, tiểu thủ công nghiệp nhỏ bé, với các ngành nghề chủ yếu: Chế biến nông, lâm sản, cơ khí sửa chữa nhỏ, sản xuất vật liệu xây dựng; giá trị sản lượng chỉ bằng 3,5% giá trị sản lượng công nghiệp toàn tỉnh. Thương mại, dịch vụ, du lịch rất nhỏ bé. Do điều kiện kinh tế chậm phát triển, vốn đầu tư cho các lĩnh vực xây dựng kết cấu hạ tầng, văn hoá - xã hội còn nhiều hạn chế nên cơ sở vật chất, nguồn nhân lực còn nhiều thiếu thốn: Tỷ lệ trường, lớp kiên cố hoá đạt thấp, giáo viên vừa thiếu lại vừa yếu, tỷ lệ trẻ em trong độ tuổi đến trường tiểu học mới đạt khoảng 90%; chỉ có 89% trạm y tế được kiên cố, 27% trạm y tế có bác sĩ phục vụ, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 45%; diện tích được phủ sóng phát thanh là 85%, diện tích được phủ sóng truyền hình mới đạt 65%. Đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập của nhân dân trong vùng mới bằng 28% mức bình quân của toàn tỉnh; tỷ lệ hộ nghèo chiếm tới 41%, thậm chí có xã lên tới 70%. Bên cạnh đó, khu vực này còn tồn tại nhiều tập tục lạc hậu trong sản xuất cũng như trong đời sống xã hội. Đây thực sự là những khó khăn, thách thức không nhỏ đối với các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh trong quá trình phát triển đi lên.

Quán triệt và nhận thức đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV (nhiệm kỳ 2001-2005), Tỉnh uỷ Bắc Giang đã xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn gắn với xoá đói giảm nghèo. Mục đích của chương trình là tăng cường khai thác tiềm năng, lợi thế, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn; tập trung đầu tư xây dựng, phát triển cơ sở hạ tầng, đẩy mạnh sản xuất giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập và mức sống của đồng bào các dân tộc, đẩy nhanh tốc độ xoá đói giảm nghèo; nâng cao dân trí và phúc lợi xã hội, giáo dục, văn hoá, y tế; giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái… từng bước thu hẹp khoảng cách giữa miền núi với với miền xuôi, đưa các dân tộc vùng đặc biệt khó khăn hoà nhập với đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh và của cả nước.

Sau 5 năm triển khai thực hiện thông qua việc lồng ghép nhiều chương trình, dự án đầu tư cho các xã đặc biệt khó khăn như: Chương trình 135, dự án Phát triển nông thôn tổng hợp giảm nghèo; các dự án phát triển lâm nghiệp, định canh định cư, dự án 120, các dự án về giáo dục, y tế, văn hoá, phát thanh - truyền hình, chương trình đưa tiến bộ khoa học lên vùng cao, chương trình dạy nghề để giải quyết việc làm tại chỗ cho nông dân và thực hiện các chính sách trợ giá, trợ cước, hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn; tổng vốn đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn đã huy động được 1.242 tỷ đồng, gấp 3,1 lần so với sự kiến ban đầu; đã có 46 sở, ban, cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị quân đội trực tiếp giúp đỡ các xã đặc biệt khó khăn bằng nhiều hình thức thiết thực. 

Kết quả, về phát triển kinh tế, năm 2005, giá trị sản xuất toàn vùng đạt 551 tỷ đồng, tăng 53% so với năm 2000. Cơ cấu sản xuất nông nghiệp trong vùng bước đầu chuyển dịch theo hướng sản xuất hàng hoá; năng suất sản lượng một số cây trồng chủ lực đã nâng cao đáng kể: Năng suất lúa đạt từ 40-42 tạ/ha, có nơi đạt 48 tạ/ha, tăng 61%; năng suất ngô đạt 25,5 tạ/ha, tăng 41% so với 2000. Tổng diện tích canh tác đạt 30,4 nghìn ha, trong đó cây lương thực 11,5 nghìn ha; hình thành vùng cây ăn quả tập trung với diện tích trên 2 vạn ha; chăn nuôi, thuỷ sản được quan tâm phát triển, sản lượng ngành chăn nuôi năm 2005 đạt 5 ngàn tấn, tăng 50% so với năm 2000. Trong đó đàn lợn tăng 30%; đàn bò tăng 140%; sản lượng cá năm 2005 tăng gấp 2,5 lần so với 2000, vượt mục tiêu đề ra.

Lâm nghiệp đã từng bước trở thành một nghề giúp bà con các dân tộc vùng núi ổn định cuộc sống và ngày một gắn bó hơn với rừng, đã xuất hiện nhiều hộ gia đình làm kinh tế trang trại, kinh doanh vườn rừng đạt hiệu quả cao. Từ năm 2001 - 2005 đã trồng mới trên 19 nghìn ha rừng tập trung; tỷ lệ che phủ rừng đạt 39%, tăng 8,2% so năm 2000, vượt mục tiêu đề ra.

Một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ bước đầu hình thành và phát triển đóng góp vào sự phát triển chung của tỉnh. Các mặt hàng trợ giá, trợ cước đã làm cho thị trường tiêu dùng các xã vùng cao phong phú hơn, hàng nông sản tiêu thụ dễ dàng, giảm chênh lệch giá so với vùng xuôi.

Đến nay, 100% các xã vùng cao, miền núi đã hoàn thành xoá mù chữ, đạt tiêu chuẩn phổ cập tiểu học và trung học cơ sở. Các xã đều có trường tiểu học, trường trung học cơ sở; đã mở thêm 3 trường cấp II, III và 36 trường mầm non.

Công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào các dân tộc thiểu số có chuyển biến tiến bộ; 100% thôn bản có nhân viên y tế hoạt động, 100% số trạm y tế xã có bác sĩ phục vụ; chương trình mục tiêu quốc gia về y tế, chính sách ưu đãi về khám chữa bệnh, cấp thuốc cho đồng bào các dân tộc được triển khai kịp thời, đồng bộ. Công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, phòng chống suy dinh dưỡng trẻ em được quan tâm chỉ đạo, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn 36%, giảm 9% so 2000, tỷ lệ phát triển dân số 1,4% giảm 0,2% so với năm 2000.

Những năm qua, thực hiện chương trình phủ sóng phát thanh, truyền hình vùng lõm, diện tích phủ sóng phát thanh đã đạt 100%, diện tích phủ sóng truyền hình đạt 85% khu vực miền núi; cấp hơn 1 ngàn ti vi, hơn 5 ngàn radio, 16 loại báo, tạp chí và nhiều trang thiết bị thông tin khác cho đồng bào các xã đặc biệt khó khăn, góp phần quan trọng nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần cho đồng bào các dân tộc. Đã có 17% thôn, bản được công nhận làng văn hoá các cấp. Công tác sưu tầm, nghiên cứu văn hoá vật thể và phi vật thể của các dân tộc được thực hiện có kết quả.

Đời sống đồng bào các dân tộc trong vùng ổn định, từng bước được cải thiện. 85% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia, tăng 23%, 60% hộ được dùng nước hợp vệ sinh, tăng 30%; lương thực bình quân đầu người đạt 366 kg/người/năm tăng gần 2 lần so với năm 2000; tỷ lệ sử dụng điện thoại đạt 1,8 máy/100 dân, tăng gấp 6 lần năm 2001; tỷ lệ hộ nghèo còn 22,6% (theo chuẩn năm 2001), giảm 18,4% so với năm 2000.

Hệ thống chính trị các xã đặc biệt khó khăn được củng cố; đã đào tạo được 72 cán bộ có trình độ trung cấp quản lí kinh tế, bồi dưỡng về lý luận, về nghiệp vụ quản lí nhà nước cho gần 1 ngàn cán bộ và tập huấn cho gần 2 ngàn lượt cán bộ xã, thôn, bản về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghiệp vụ tổ chức thực hiện các chương trình, dự án, chính sách dân tộc. Tình hình an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, khối đại đoàn kết các dân tộc được củng cố. Cùng với sự phát triển đi lên về kinh tế - xã hội, ở vùng đặc biệt khó khăn trong 5 năm qua đã đầu tư xây dựng được 374 công trình, gồm trường học, giao thông, thuỷ lợi, điện, y tế, chợ nông thôn; đầu tư xây dựng 11 trung tâm cụm xã; xây mới 57 hồ, đập vừa và nhỏ, kiên cố 96 km kênh mương; các công trình đã góp phần mở rộng diện tích canh tác chủ động nước tưới lên trên 60%, nâng hệ số sử dụng đất canh tác lên 1,8 lần. Đến nay các tuyến đường quốc lộ và hầu hết các tỉnh lộ đến các huyện miền núi đều được trải nhựa, các tuyền đường liên huyện, liên xã được cải tạo, nâng cấp; 99,1% số xã có đường ô tô vào được trung tâm trong mùa mưa lũ; 100% các xã có điểm bưu điện - văn hoá; 100% số xã có điện lưới quốc gia; 56% số phòng học, 95% số trạm y tế xã được xây dựng kiên cố, hầu hết các xã đều có trường học cao tầng. Đã đầu tư xây dựng 9 trạm phát lại truyền hình, 43 trạm truyền thanh không dây, trạm phát sóng FM…

Nhìn lại gần 10 năm sau khi tái lập tỉnh, thông qua Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn gắn với xoá đói giảm nghèo do nguồn vốn của Trung ương, địa phương, các tổ chức xã hội đầu tư giúp đỡ đã góp phần quan trọng làm thay đổi bộ mặt vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở hầu hết các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh; làm cơ sở, tiền đề cho các bước phát triển tiếp theo. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn ở Bắc Giang còn một số hạn chế cần được quan tâm giải quyết như: Cơ cấu kinh tế vẫn còn rất lạc hậu, chuyển dịch chậm, về cơ bản vẫn là kinh tế thuần nông; sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, thương mại - dịch vụ chậm phát triển; chưa khai thác hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của vùng như: đất đai, tài nguyên rừng, lao động…; Chênh lệch về mức sống của người dân giữa vùng đặc biệt khó khăn và các vùng khác trong tỉnh có xu thế ngày càng giãn ra. Năm 2000, thu nhập bình quân/người vùng đặc biệt khó khăn bằng 55% mức bình quân của cả tỉnh; đến năm 2005 con số này chỉ còn 49%. Tương tự đối với tỷ lệ hộ nghèo, năm 2000, tỷ lệ hộ nghèo vùng đặc biệt khó khăn cao gấp hơn 2 lần mức bình quân của cả tỉnh; vào thời điểm năm 2005, tỷ lệ này gấp 3 lần… Mặt khác, địa hình vùng đặc biệt khó khăn có độ dốc lớn bị chia cắt, vốn đầu tư chưa đáp ứng được nhu cầu, nên hạ tầng kinh tế - xã hội của vùng đặc biệt khó khăn vẫn còn nhiều hạn chế: Đến nay, vẫn còn 2 xã chưa có đường giao thông đến trung tâm xã trong mùa mưa; 24 xã thiếu lớp học, 3 xã chưa có điện lưới quốc gia; nhiều xã chưa có nước sạch, chưa có chợ và hàng chục ngàn ha lúa, hoa màu, cây ăn quả chưa chủ động về nước tưới… Chất lượng một số ít công trình xây dựng cơ bản chưa bảo đảm, phát huy hiệu quả hạn chế; Trình độ đội ngũ cán bộ cơ sở, dân trí vùng đặc biệt khó khăn còn hạn chế; tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước trong một bộ phận cán bộ và nhân dân còn nặng nề; chưa có ý thức tự lực vươn lên phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói giảm nghèo; dễ bằng lòng với cuộc sống hiện tại.

Để phát huy kết quả đã đạt được, sớm khắc phục những hạn chế, thiếu sót trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đặc biệt khó khăn, trong thời gian tới, các cấp uỷ đảng, chính quyền tỉnh Bắc Giang cần khai thác triệt để tiềm năng về đất lâm nghiệp của vùng. Các cấp uỷ, chính quyền địa phương tiếp tục phối hợp với các lâm trường và các cơ quan hữu quan kiểm kê, xác định chính xác diện tích rừng phòng hộ, rừng đặc dụng cần bảo vệ theo quy định; phần còn lại chuyển sang thành rừng kinh tế và giao cho nhân dân trồng, chăm sóc, bảo vệ, khai thác; tạo điều kiện để người dân có thể sống và làm giàu trên đất rừng. Đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm; vận động, hỗ trợ nhân dân đưa các loại giống cây, con mới, năng suất cao, chất lượng tốt vào sản xuất; chú trọng phát triển chăn nuôi đại gia súc. Trước mắt, cần xây dựng những mô hình, những điển hình ở địa phương về phát triển nông, lâm kết hợp để nhân dân học tập làm theo. Khuyến khích, vận động các doanh nghiệp ký kết hợp đồng sản xuất và tiêu thụ hàng nông, lâm sản trực tiếp để các hộ nông dân yên tâm sản xuất. Xây dựng cơ chế ưu đãi trên cơ sở luật pháp để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng đặc biệt khó khăn, tạo việc làm, đẩy mạnh phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và nâng cao thu nhập cho nông dân trong vùng. Cùng với các chính sách, thúc đẩy kinh tế phát triển cần tiếp tục đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng vùng đặc biệt khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, giao lưu với bên ngoài; thu hẹp dần khoảng cách về không gian với miền xuôi; thu hút nhân tài, vật lực ở miền xuôi lên miền núi. Khi xây dựng các dự án đầu tư cần tham khảo ý kiến nhân dân trong vùng; có cơ chế để nhân dân giám sát; đảm bảo phát huy tác dụng các nguồn vốn, tránh thất thoát, lãng phí. Để tăng cường cho nguồn lực con người trong thời gian tới cần tiếp tục đầu tư mạnh hơn nữa cho công tác giáo dục - đào tạo và y tế ở vùng đặc biệt khó khăn; đầu tư về cơ sở vật chất trường lớp học, trạm y tế; có chính sách khuyến khích giáo viên, cán bộ y tế lên công tác ở vùng cao, miền núi… Chỉ có như vậy mới có thể tạo ra được một thế hệ công dân miền núi có tri thức, có sức khoẻ để tham gia đầy đủ vào quá trình đẩy mạnh sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi nói chung và các xã đặc biệt khó khăn nói riêng.

Mai Sơn

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,673,329


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs