Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Tuyên Quang - Hai mươi năm đổi mới và phát triển


Đồng bào các dân tộc thiểu số được nhận vào làm công nhân ở công ty cao su Chư Prông

Tuyên Quang là tỉnh miền núi phía Bắc, giáp với các tỉnh: Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Yên Bái, Phú Thọ và Vĩnh Phúc. Diện tích tự nhiên 5.860 km2; tỉnh có 5 huyện và 1 thị xã với 140 xã, phường, thị trấn. Dân số 727 nghìn người với 22 dân tộc. Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Tuyên Quang là thủ đô khu giải phóng, “thủ đô kháng chiến”; Tân Trào - là an toàn khu của Trung ương Đảng, Chính phủ và Bác Hồ để lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc đi đến thắng lợi cuối cùng.

Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Tuyên Quang đã chủ động sáng tạo, vượt qua khó khăn, đạt được thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội. Giữ vững sự phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân (2001-2005) đạt trên 11%/năm. Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng, giảm dần tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp. Thu ngân sách tăng bình quân 17%/năm. Sản xuất nông lâm nghiệp đạt mức tăng trưởng khá, tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; bước đầu hình thành một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh theo hướng sản xuất hàng hoá, gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ. Sản lượng lương thực đạt 30,5 vạn tấn, bình quân đạt 420 kg/người/năm. Chăn nuôi phát triển khá. Xây dựng, kiên cố hoá trên 880 km kênh mương, nâng tỷ lệ diện tích lúa được tưới chắc lên 75%. Tập trung trồng rừng nguyên liệu, trồng rừng phòng hộ. Độ che phủ của rừng đạt 63%. Sản xuất công nghiệp bước đầu phát huy những lợi thế của tỉnh. Hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp của tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân trên 16%/năm.

Triển khai thực hiện một số dự án công nghiệp quan trọng như: nhà máy sản xuất bột đá trắng, dự án sản xuất bột ba rít, nhà máy chế biến gỗ, 3 dự án sản xuất xi măng, nhà máy sản xuất thức ăn gia súc, nhà máy cán thép, dự án Liên doanh sản xuất phối thép; nhà máy chế biến sữa, dự án Nhà máy giấy An Hoà… Quy hoạch Cụm các khu công nghiệp - dịch vụ - đô thị Long Bình An, Khu du lịch suối khoáng Mỹ Lâm để thu hút đầu tư. Hoàn thành quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh. Ban hành chính sách khuyến khích đầu tư trên địa bàn tỉnh, quy chế khuyến công. Kết cấu hạ tầng được chú trọng đầu tư xây dựng. Hoàn thành quy hoạch tổng thể mạng lưới giao thông đến năm 2010, định hướng phát triển đến năm 2020. Đầu tư xây dựng một số công trình giao thông quan trọng; nâng cấp 229 km quốc lộ, 238 km đường tỉnh, 563 km đường huyện, 72 km đường đô thị, mở mới 855 km đường thôn bản. Đến nay, 100% số xã và 96% thôn, bản có đường ô tô đến trung tâm; 100% số xã, phường, thị trấn và 83% dân số được sử dụng điện lưới quốc gia; 100% xã, phường, thị trấn có điện thoại… Sự nghiệp văn hoá, xã hội có nhiều tiến bộ. Trong đó tập trung ưu tiên cho phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, năm 2003 tỉnh đã phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi; 100% xã, phường, thị trấn hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Công tác đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được chú trọng. Đẩy mạnh thực hiện các tiêu chí phổ cập giáo dục bậc trung học. Thực hiện chương trình kiên cố hoá trường học đảm bảo tiến độ, chất lượng công trình.

65% số trạm y tế xã có bác sỹ (các trạm y tế còn lại đều có bác sĩ tăng cường để khám chữa bệnh cho nhân dân địa phương); 98% thôn bản có cán bộ y tế; 130/140 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; giảm tỷ lệ trẻ em (dưới 5 tuổi) suy dinh dưỡng từ 34% năm 2001 xuống 25%; tỷ lệ giảm sinh hàng năm là 0,06%.
Đời sống tinh thần của nhân dân được nâng lên. Địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh đạt 84%, phủ sóng truyền hình đạt 90%. Có 74% số thôn bản và 80% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá. Tỉnh đã hỗ trợ làm mới, sửa chữa trên 4.700 nhà ở cho hộ nghèo; cơ bản xoá xong nhà tranh tre dột nát cho các hộ nghèo. Cuối năm 2005, tỷ lệ hộ nghèo 35,48% (theo chuẩn nghèo giai đoạn 2006-2010). Công tác phòng chống tệ nạn xã hội đạt kết quả tốt. Quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh được giữ vững.

Tuy nhiên, Tuyên Quang còn gặp một số khó khăn, hạn chế trong phát triển kinh tế - xã hội. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá chậm; một số lĩnh vực kinh tế phát triển chưa vững chắc, chưa tạo được bước đột phát nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của tỉnh; các vùng kinh tế trọng điểm chậm hình thành; nguồn thu ngân sách nhỏ bé. Đời sống của một số hộ thoát nghèo chưa vững chắc. Do tỉnh có 22 dân tộc, trên 40% số xã (61 xã) thuộc diện vùng cao, vùng sâu, vùng đặc biệt khó khăn vì vậy phần lớn các giải pháp, cơ chế chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đều gắn với mục tiêu từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng đặc biệt khó khăn.

Từ thực tiễn trong thời gian qua, xin nêu mấy vấn đề vừa là kinh nghiệm, vừa là đề xuất giải pháp nhằm phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi toàn diện, bền vững.

Trước tiên cần hỗ trợ về thể chế và chính sách để phát triển bền vững. Thực hiện có hiệu quả phương thức “nhân dân làm, nhà nước hỗ trợ” để đầu tư cơ sở hạ tầng nông thôn (giao thông, thuỷ lợi, điện, nước sinh hoạt, công trình giáo dục, y tế…); tạo điều kiện phát triển sản xuất bền vững thông qua giao đất, giao rừng, “dồn điền đổi thửa”, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi; nâng cao hiệu quả hoạt động khuyến nông; tăng cường cho vay vốn sản xuất…

Quy hoạch, sắp xếp lại dân cư nông thôn; quy hoạch và xây dựng trung tâm cụm xã; thực hiện có hiệu quả mô hình phân cấp và giao cho xã làm chủ đầu tư; quan tâm phát triển nguồn nhân lực; phổ cập các bậc học, mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ sở; bố trí đội ngũ cán bộ y tế xã, thôn bản phục vụ khám chữa bệnh cho nhân dân; thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo…

Hai là, hỗ trợ cụ thể về vật chất nhằm giảm bớt khó khăn về đời sống và sản xuất của đồng bào. Thực hiện một số chính sách như trợ giá, trợ cước giống, vật tư nông lâm nghiệp và hàng chính sách xã hội; hỗ trợ lãi suất vay vốn để chăn nuôi, mua máy nông nghiệp; hỗ trợ về giáo dục như giấy vở, sách giáo khoa; hỗ trợ các hộ nghèo sửa chữa, làm mới nhà ở; thực hiện chính sách khám chữa bệnh miễn phí…

Ba là, quan tâm hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số, miền núi đảm bảo hài hoà, cân đối giữa phát triển kinh tế với an ninh xã hội; hài hoà về chính sách giữa các vùng miền, giữa các khu vực cùng trên một địa bàn.
Về giải pháp, cần thực hiện lồng ghép, gắn kết các chương trình kinh tế - xã hội phát triển vùng dân tộc thiểu số; cụ thể hoá các chương trình, dự án trên cơ sở phù hợp với thực tế; lựa chọn mục tiêu đầu tư hợp lý, tập trung vào các mục tiêu mà nhân dân sở tại đang cần, phát huy hiệu quả cao nhất, tạo ra thu nhập và cải thiện đời sống nhân dân nhanh nhất. Tăng cường phân cấp, giao cho chính quyền cơ sở thực hiện các chương trình kinh tế - xã hội, vì họ hiểu dân hơn, biết rõ những gì dân cần, làm thế nào để có hiệu quả, huy động được nhiều sức dân nhất. Với cách làm như trên, thực tế triển khai Chương trình 134, Chương trình 135, Dự án đa dạng hoá thu nhập nông thôn, tỉnh Tuyên Quang đã đạt kết quả quan trọng.

Khi thực hiện các giải pháp phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, cần gắn kết chặt chẽ giữa các khâu với nhau tạo nên hiệu quả bền vững; chẳng hạn cho vay vốn phải kết hợp khuyến nông, hướng dẫn kỹ thuật; đào tạo nghề phải gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm; đầu tư cơ sở hạ tầng gắn với hướng dẫn vận hành, bảo trì công trình… Mặt khác, quan tâm giải quyết việc làm cho lao động vùng dân tộc, miền núi. Đối với các chương trình, dự án, những phần việc mà nhân dân sở tại có thể làm được thì giao cho họ làm, tạo thêm thu nhập.
Thực hiện có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở và tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chính sách, chương trình, dự án.

Cùng với các giải pháp trên, một nhiệm vụ rất quan trọng và xuyên suốt là phải xây dựng hệ thống chính trị cơ sở ở vùng dân tộc, miền núi, đảm bảo vững mạnh, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ. Tăng cường đào tạo đội ngũ cán bộ cấp xã, thôn, bản.

Để phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi, tỉnh Tuyên Quang kiến nghị với Đảng, Nhà nước một số vấn đề như:

Quan tâm đầu tư kết cấu hạ tầng cần thực hiện trước, đầu tư có quy hoạch, nhằm tạo điều kiện cho sản xuất và đời sống của đồng bào, nhất là hệ thống giao thông đi lại được trong 4 mùa, hệ thống thuỷ lợi, cung cấp nước sạch… Cần có biện pháp dự báo về thiên tai, lũ quét; quy hoạch, bố trí dân cư nông thôn hợp lý; di chuyển các hộ gia đình sinh sống tại những nơi có nguy cơ bị ảnh hưởng do thiên tai đến định cư tại nơi ở mới, an toàn, có điều kiện phát triển. Mỗi cụm xã, nên xây dựng một trung tâm cụm xã hoàn chỉnh, nhất là kết cấu hạ tầng, cơ sở kinh tế - văn hoá, tạo động lực phát triển cho một vùng tại vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Có cơ chế đặc biệt để hỗ trợ, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư ở vùng khó khăn. Mở rộng cho vay đối với vùng đặc biệt khó khăn theo cơ chế được thế chấp bằng tài sản hình thành từ vốn vay để vay vốn ngân hàng; được vay vốn bằng tín chấp và vay theo dự án sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; có chính sách hỗ trợ đầu tư ban đầu (hỗ trợ lãi suất, tăng thời gian ân hạn; cho vay trung, dài hạn…). Nâng mức cho vay không phải thế chấp tài sản đối với các tỉnh miền núi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội, nhất là các dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chế biến, tiêu thụ nông lâm sản. Việc đào tạo cán bộ xã và cán bộ kế cận cho xã là rất quan trọng, trong khi nguồn ngân sách các tỉnh miền núi là rất khó khăn do đó Trung ương cần hỗ trợ các tỉnh miền núi kinh phí để đào tạo cán bộ cơ sở. Đối với các xã sau khi cơ bản hoàn thành các mục tiêu Chương trình 135 (giai đoạn 1999-2005) nhưng thực tế vẫn còn nhiều khó khăn; đề nghị Trung ương tiếp tục đầu tư hỗ trợ phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông thôn thông qua hỗ trợ về giống, chuyển giao khoa học kỹ thuật, đào tạo cán bộ xã, thôn bản; quy hoạch bố trí dân cư…; tiếp tục cho hưởng các chính sách ưu đãi như đối với các xã 135 như chính sách khám chữa bệnh miễn phí theo Quyết định số 139/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ, được giảm lãi suất vay vốn (giảm 30%), các chính sách về giáo dục và các chính sách xã hội khác.

Lê Thị Quang
Phó Bí thư Tỉnh ủy
Chủ tịch UBND tỉnh Tuyên Quang

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,769


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs