Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Hướng tới sự phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer tỉnh Trà Vinh


Đồng chí Nguyễn Thái Bình - Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy (người đứng thứ hai từ trái sang) gặp gỡ, trao đổi với các cán bộ lão thành cách mạng người dân tộc Khmer

Đồng bào Khmer Trà Vinh cư trú tập trung ở các vùng đất giồng cao, đa số dân sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Riêng địa bàn 39 xã, phường có đông đồng bào Khmer cư trú có 62.086 ha đất nông nghiệp, chiếm 57,78% diện tích đất nông nghiệp toàn tỉnh, phần lớn đất đai bị nhiễm mặn, nhiễm phèn, hệ thống thuỷ lợi chưa hoàn chỉnh, giao thông đi lại khó khăn thêm vào đó là tâm lý hướng nội, bởi đồng bào chịu ảnh hưởng sâu sắc triết lý Phật giáo (tiểu thừa) nên đến năm 2003 số hộ Khmer nghèo vẫn còn chiếm 40% trong số hộ nghèo toàn tỉnh.

Cùng với việc triển khai thực hiện tốt các chính sách của Đảng, Nhà nước về dân tộc và tôn giáo, năm 1992, sau khi tái lập tỉnh, Tỉnh uỷ Trà Vinh đã đề ra Nghị quyết 01 và năm 2003 Tỉnh uỷ lại tiếp tục đề ra Nghị quyết 06 “về phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer”. Trong quá trình lãnh đạo phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer, Tỉnh uỷ tập trung lãnh đạo giải quyết tốt những vấn đề bức xúc về đất sản xuất, đất ở nhà ở, xây dựng cơ sở hạ tầng… Từ năm 1995 đến nay, toàn tỉnh đã hỗ trợ 872 triệu đồng cho 338 hộ Khmer nghèo chuộc lại 112 ha đất đã cầm cố để có sản xuất, vận động được trên 1.000 hộ nhiều đất cho 1.400 hộ ít đất, hoặc không có đất được mượn trên 660 ha đất để sản xuất một vụ lúa hoặc một vụ màu trong năm; riêng từ năm 2001 đến nay, thực hiện chính sách hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, tỉnh đã hỗ trợ cho 6.459 hộ Khmer nghèo với số tiền là 1.950 triệu đồng để giải quyết khó khăn trong cuộc sống và hỗ trợ sản xuất cho 1.050 hộ với số tiền là 1.050 triệu đồng, hỗ trợ xây dựng 18.480 căn nhà tình thương cho đồng bào nghèo khó khăn về nhà ở, đến nay có trên 90% diện tích đất sản xuất nông nghiệp được chủ động về thuỷ lợi, 86% hộ được sử dụng điện và 85% số hộ được dùng nước sạch.

Về phương diện văn hoá - xã hội: Cùng với quá trình phát triển của đất nước, mặt bằng dân trí của đồng bào cũng từng bước được nâng lên. So sánh năm học 1992-1993 với năm học 2003-2004 cho thấy: Năm học 1992-1993 toàn tỉnh lúc đó có 30.864 học sinh Khmer học phổ thông, đến năm học 2003-2004, số học sinh ở các cấp học phổ thông lên đến 67.543 em. Như vậy, trước khi có Nghị quyết 01 (năm 1992) thì 9 người Khmer mới có 1 người đi học, đến nay gần 5 người Khmer đã có 1 người đi học. Mặt khác, tuyệt đại đa số người Khmer theo Phật giáo (tiểu thừa), con trai đến tuổi phải vào chùa tu học như là nghĩa vụ và đạo đức làm người. Nên toàn tỉnh có 141 chùa Khmer với khoảng 3.657 sư sãi tu học. Tuy nhiên, càng học lên cao thì số học sinh Khmer ngày càng giảm. Năm học 2002-2003 toàn tỉnh có 1.805 giáo viên người dân tộc Khmer chiếm tới 30% dân số toàn tỉnh. ở các bậc học khác tình hình cũng tương tự.

Trong khi đó quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn ngày càng đặt ra những yêu cầu bức xúc đối với sđồng bào dân tộc, như việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào đồng ruộng, yêu cầu chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi, đa dạng hoá ngành nghề, các yêu cầu thủ tục hành chính về đất đai, tín dụng… đòi hỏi người tiếp nhận cần phải có một trình độ học vấn, kiến thức nhất định, có như vậy mới có thể thoát khỏi đói nghèo, vươn lên làm giàu trong nền kinh tế hiện nay. Điều này hoàn toàn đúng với một chân lý được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra sau năm 1945: “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”.

Về phương diện chính trị, để đảm bảo yêu cầu giữ vững sự ổn định chính trị, định hướng xã hội chủ nghĩa đồng thời phải ngăn chặn, vô hiệu hoá sự phá hoại của các thế lực thù địch đang là vấn đề cấp thiết ở khu vực Tây Nam bộ nói chung và của tỉnh Trà Vinh nói riêng. Từ trong lịch sử, đồng bào Kinh - Khmer - Hoa vốn có truyền thống đoàn kết, gắn bó lâu đời và có nhiều thành tích trong kháng chiến chống ngoại xâm và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đồng bào Khmer cùng với đồng bào các dân tộc anh em trong cả nước đang cần sự ổn định, nhất là ổn định về chính trị để phát triển theo con đường “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử cũng cho thấy rằng từ khi đất nước còn nô lệ cho đến khi giành được độc lập và cả trong giai đoạn hiện nay thì đồng bào Khmer ở Nam Bộ nói chung và Trà Vinh nói riêng luôn bị các thế lực thù địch lợi dụng, phân hoá với nhiều thủ đoạn thâm độc, xảo quyệt… Điểm đặc biệt là trên phương diện quan hệ quốc tế, đồng bào Khmer ở Trà Vinh và Tây Nam bộ có quan hệ cùng dân tộc, tôn giáo, thậm chí cùng huyết thống thân tộc với người Khmer ở Vương quốc Campuchia. Do đó, những thay đổi theo hướng tích cực hoặc tiêu cực của quốc gia này đều có tác động nhất định đến đồng bào Khmer trong nước.

Xuất phát từ những vấn đề cơ bản trên, để làm chuyển biến toàn diện đời sống kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào Khmer hiện nay tỉnh Trà Vinh xác định một số quan điểm mang tính nguyên tắc như sau:
Thứ nhất, các nhiệm vụ, mục tiêu phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer phải quán triệt sâu sắc các quan điểm về công tác dân tộc của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta, nhất là các quan điểm trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (Khoá IX) về “công tác dân tộc”, “công tác tôn giáo” và sắp tới đây là Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng. Đồng thời cần tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng trong vùng đồng bào Khmer, theo hướng củng cố, xây dựng niềm tin vào Đảng và chế độ bằng sự khẳng định những thành tựu của quá trình 20 năm đổi mới đất nước, 13 năm tái lập tỉnh Trà Vinh.

Thứ hai, xác định nhiệm vụ trọng tâm làm chuyển biến đời sống kinh tế - văn hoá - xã hội của đồng bào dân tộc Khmer hiện nay là tập trung phát triển sản xuất, xoá đói giảm nghèo; rút ngắn khoẳng cách chênh lệch về mức sống. Đồng thời với việc nâng cao trình độ dân trí và xây dựng ý chí tự lực, vươn lên của bản thân đồng bào bà con dân tộc trong tỉnh.

Thứ ba, thực tiễn cho thấy cần phải đổi mới nội dung, phương thức công tác dân tộc đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng; gắn liền với nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị cơ sở trong vùng đồng bào Khmer và xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc, đặc biệt là đội ngũ cán bộ dân tộc; nâng cao chất lượng hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi yêu nước các cấp tỉnh Trà Vinh.

Thứ tư, phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer đòi hỏi phải phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp kinh tế, văn hoá, xã hội… Đồng thời, đòi hỏi sự nỗ lực đầu tư toàn diện ở các cấp, các ngành từ cơ sở đến Trung ương và toàn xã hội.

Thứ năm, lấy hiệu quả kinh tế - xã hội gắn liền với bảo vệ bản sắc văn hoá, dân tộc Khmer và sự ổn định về chính trị làm tiêu chuẩn đánh giá các giải pháp chuyển biến đời sống đồng bào dân tộc Khmer.
Do đó mục tiêu tổng quát phát triển toàn diện vùng đồng bào Khmer đến 2010 của tỉnh Trà Vinh đến năm 2010 là không còn hộ tái đói trong vùng đồng bào dân tộc Khmer, hộ nghèo giảm xuống 10%; không còn xã đặc biệt khó khăn; 90% hộ dân được sử dụng điện và nước sạch trong sinh hoạt; 100% thanh thiếu niên trong độ tuổi được phổ cập trung học cơ sở; 90-100% số hộ được xem truyền hình, nghe đài phát thanh; phấn đấu phát triển đảng viên mới trong đồng bào Khmer đạt tỷ lệ từ 20% trở lên so với tổng số đảng viên chung; không để bọn phản động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo vu cáo phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.

Để thực hiện mục tiêu trên đòi hỏi sự nỗ lực mạnh mẽ của các ngành, các cấp; sự hỗ trợ to lớn trong cộng đồng thông qua các giải pháp sau:

Thứ nhất, tập trung chỉ đạo nông nghiệp, nông thôn và nông dân Trà Vinh thực hiện kế hoạch chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; vận động nông dân vùng dân tộc tham gia các hình thức hợp tác, thực hiện tự thoả thuận “dồn điền, đổi thửa” để tạo điều kiện thâm canh cây trồng, vật nuôi; tăng tỷ lệ vốn ngân sách Nhà nước và huy động nhiều nguồn vốn của xã hội, đầu tư mạnh cho phát triển hệ thống thuỷ lợi phục vụ kế hoạch chuyển đổi cơ sở sản xuất; tăng cường công tác khuyến nông; khuyến ngư; hình thành vùng sản xuất nông - thuỷ sản có giá trị hàng hoá cao và có thị trường tiêu thụ rộng, đi đôi với phát triển thương mại - dịch vụ góp phần giải quyết việc làm ổn định cho lao động, tăng thu nhập và mức sống cho nhân dân trong vùng dân tộc Khmer.

Thứ hai, tiếp tục thực hiện mục tiêu “xoá đói, giảm nghèo” bằng cách: Tạo điều kiện cho các hộ nghèo chỉ biết làm nông nghiệp (có kinh nghiệm và nắm bắt được khoa học - kỹ thuật) được chuộc lại đất cầm cố; tăng cường mở lớp tập huấn và đào tạo nghề cho lao động, phát triển ngành nghề mới ở nông thôn cần ít đất (chăn nuôi, trồng màu thực phẩm, trồng nấm rơm, nấm mèo); gắn với phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ để giải quyết việc làm ổn định cho lao động của hộ nghèo không đất. Đồng thời, thực hiện lồng ghép Chương trình 135, 134 của Chính phủ và các chương trình, dự án khác để đầu tư phát triển sản xuất, hạ tầng kinh tế - xã hội trong vùng đồng bào dân tộc Khmer còn nhiều khó khăn; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, hỗ trợ xây dựng nhà ở và tư liệu sản xuất cho các hộ cực nghèo. ở một hướng khác, chuẩn bị nguồn lao động cho thị trường lao động ngoài tỉnh và xuất khẩu lao động sang các nước để giải quyết nhu cầu việc làm, góp phần cải thiện đời sống, trang bị tư duy kinh tế năng động cho đồng bào dân tộc.

Thứ ba, đẩy mạnh đầu tư, xây dựng trường, lớp học phổ thông kiên cố và bán kiên cố. Song song với việc thực hiện phổ cập giáo dục trung học cơ sở và chống tái mù chữ, phát triển các lớp học bổ túc văn hoá, nâng cao chất lượng dạy và học ở các trường phổ thông dân tộc nội trú, ưu tiên cho thanh niên ở độ tuổi lao động người dân tộc vào học ở các trường dạy nghề của tỉnh, trung tâm dạy nghề của các huyện, thị, tạo điều kiện cho học sinh Khmer được cử tuyển và thi đậu vào các trường trung cấp, cao đẳng, đại học, hỗ trợ học tiếp sau đại học.

Đồng thời, đưa cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” đi vào chiều sâu, trong đó đặt biệt chú ý thực hiện tốt chính sách bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc của đồng bào Khmer; tổ chức huy động các nguồn lực trong xã hội để tham gia tôn tạo, giữ gìn, sưu tầm, nghiên cứu văn hoá phi vật thể của đồng bào Khmer Nam bộ. Thực hiện tốt các chương trình quốc gia về y tế, dân số - kế hoạch hoá gia đình; thực hiện nếp sống vệ sinh và bảo vệ môi trường, đẩy mạnh chất lượng khám chữa bệnh ở các trạm xá xã, phường trong vùng đồng bào dân tộc, khuyến khích việc kết hợp đông - nam - tây y trong điều trị.

Quán triệt quan điểm “xây đi đôi với chống” trong xây dựng đời sống văn hoá vùng dân tộc dân tộc Khmer cần sử dụng nhiều biện pháp và kiên quyết đấu tranh đẩy lùi, xoá bỏ các tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm độc hại, phản động, mê tín dị đoan và các hủ tục lạc hậu; vận động thực hành tiết kiệm trong các hoạt động tín ngưỡng, nhất là trong các lễ hội truyền thống của đồng bào.

Thứ tư, thường xuyên giáo dục ý thức cảnh giác, đấu tranh chống âm mưu “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, tôn giáo; sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng nhằm tuyên truyền tính đúng đắn của các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc, tôn giáo. Đồng thời, phản tuyên truyền kịp thời các luận điệu xuyên tạc của các tổ chức phản động, tăng cường giáo dục ý thức pháp luật, nhất là qui chế qua lại giữa nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia; giải quyết kịp thời, đúng luật các vụ khiếu kiện, tranh chấp trong nội bộ nhân dân, không để xảy ra điểm nóng.

Tập trung xây dựng chiến lược quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, phát huy tốt phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, củng cố lực lượng công an, dân quân tự vệ cơ sở vững mạnh làm nòng cốt trong việc giữ gìn an ninh trật tự xã hội ở địa phương và làm thất bại mọi âm mưu phá hoại của thế lực thù địch. Thực hiện tốt chính sách tín ngưỡng, tôn giáo trong vùng đồng bào Khmer, song song với kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn kịp thời những hành vi lợi dụng tôn giáo, dân tộc phá hoại cuộc sống yên bình của nhân dân.
Thứ năm, tăng cường xây dựng, củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở vùng đồng bào Khmer. Cơ cấu hợp lý cán bộ Khmer ở các cấp, các ngành, nhất là các địa phương có tỷ lệ người dân tộc Khmer chiếm 30% dân số trở lên. Tăng cường số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác ở vùng dân tộc và đội ngũ cán bộ dân tộc Khmer. Chú trọng công tác dân vận, mặt trận, xây dựng lực lượng nòng cốt trong dân tộc, nắm chắc và giải quyết kịp thời những nguyện vọng chính đáng của đồng bào và sư sãi Khmer, thực hiện tốt phương châm dân vận “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân”. Tiếp tục thực hiện Chỉ thị của Tỉnh uỷ về việc phát triển đảng viên trong quần chúng đồng bào dân tộc Khmer. Đồng thời đẩy mạnh công tác tự phê bình của cán bộ, đảng viên trước quần chúng, nhằm tháo gỡ kịp thời các vướng mắc, củng cố, tăng cường mối quan hệ đoàn kết gắn bó giữa Đảng, chính quyền với nhân dân trong vùng dân tộc Khmer.

Phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc Khmer làm điều kiện để xây dựng khối đoàn kết Kinh - Hoa - Khmer là một chủ trương lớn của Tỉnh uỷ và chính quyền các cấp ở Trà Vinh, bởi sự thành công của chủ trương này không chỉ dừng lại ở chỗ đảm bảo lợi ích kinh tế - xã hội cho bản thân người dân tộc Khmer, mà với tính chất đặc thù của vấn đề trên, trong bối cảnh phức tạp của tình hình thế giới và khu vực hiện nay nó còn có tác động đến sự ổn định về chính trị của địa phương và cả nước. Đúng như dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã xác định: “Đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới sự lãnh đạo của Đảng là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

Nguyễn Thái Bình
Ủy viên Trung ương Đảng
Bí thư Tỉnh ủy Trà Vinh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,863


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.3 secs