Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 23/03/2006
Vấn đề dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta hiện nay

Nước ta là một trong những quốc gia đa dân tộc, trải qua mấy nghìn năm dựng nước và giữ nước, các dân tộc luôn kề vai sát cánh gắn bó máu thịt bên nhau trong đấu tranh chống ngoại xâm, chống thiên tai địch hoạ và dựng xây đất nước. Các dân tộc nước ta là một cộng đồng thống nhất trong đa dạng; cư trú xen kẽ và phân tán trên mọi vùng miền với cơ cấu dân số và trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đồng đều; bản sắc văn hoá từng dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hiến Việt Nam. Bình đẳng, đoàn kết các dân tộc là đường lối của Đảng ta đã xác định ngay từ khi mới thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Dựa trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc với những nội dung cơ bản: “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển”.

Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội X của Đảng về vấn đề dân tộc, trong mục XII “Phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân” đã ghi:

“Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Phát triển kinh tế, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới; làm tốt công tác định canh, định cư và xây dựng vùng kinh tế mới. Quy hoạch, phân bổ, sắp xếp lại dân cư, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân sĩ, trí thức của đồng bào dân tộc thiểu số. Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi thực hiện “cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng nói của đồng bào”, làm tốt công tác dân vận. Chống kỳ thị, hẹp hòi, chia rẽ dân tộc”.

Dự thảo lần này có sửa đổi, bổ sung rõ, cụ thể và đầy đủ hơn về vấn đề dân tộc và định hướng chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, một số câu chữ và trình tự của các vấn đề đặt ra, chúng tôi có vài ý kiến tham gia như sau:

- Vấn đề “Đại đoàn kết toàn dân tộc” đã được xác định ở đầu mục XII, do đó trong đoạn này cần nhấn mạnh “Vấn đề dân tộc” như đã ghi tại Văn kiện Đại hội IX. Nay tiếp tục khẳng định “Vấn đề dân tộc và đại đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta”.

- Nội dung mang tính nguyên tắc của đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc của Đảng, xác định tiếp theo “Vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài” là “Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc cực đoan và kỳ thị, chia rẽ dân tộc; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc” cùng với cụm từ “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ”.

- Thay từ “Tôn trọng” cho từ “Tương trợ” trước đây là hợp lý; tránh cách hiểu “Tương trợ” theo một chiều: “Vùng mạnh giúp vùng yếu, người giàu giúp người nghèo” khi hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc, dễ dẫn đến lối suy nghĩ theo kiểu “Ban ơn, chiếu cố” của cơ chế “Xin - cho” trong xử lý ở tầm vĩ mô và nảy sinh tư tưởng “ỷ lại, chờ trên rót xuống” ở địa phương, cơ sở. Không thấy rõ trách nhiệm và tác động qua lại giữa các vùng thuận lợi hơn và những vùng khó khăn hơn, thực hiện thắng lợi công cuộc xoá đói giảm nghèo trên phạm vi cả nước, mà trước hết là vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới - nơi có đại bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống. Vì lợi ích chung, đồng bào các dân tộc sẵn sàng di dời nơi ở gắn liền với phong tục tập quán truyền thống từ nhiều đời nay, chuyển đến nơi tái định cư để xây dựng các công trình quốc gia… “Tôn trọng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ” thể hiện rõ và đầy đủ hơn mối quan hệ tương hỗ trong việc “Tương trợ giúp nhau cùng phát triển” giữa các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam.

- Việc “Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân sĩ, trí thức của đồng bào dân tộc thiểu số” là hết sức quan trọng, là một trong hai nội dung cơ bản nhất của chính sách dân tộc và công tác dân tộc ở nước ta: “Văn hoá và Cán bộ”. Tuy nhiên, ở đây nên bỏ từ “Nhân sĩ” vì không còn phù hợp với giai đoạn hiện nay. Mặt khác, cần tiếp tục khẳng định việc “Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng bà con dân tộc thiểu số” tham gia các hoạt động quản lí xã hội ở địa phương và thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở.

- Về công tác dân vận, không chỉ là “Cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi thực hiện cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng nói tiếng của đồng bào”, mà nên tổng quát: “Làm tốt công tác dân vận theo phương châm: Chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách: “Trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”, như đã xác định tại Nghị quyết số 24-NQ-TW ngày 12/3/2003 Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Khoá IX về công tác dân tộc.

- Thống nhất sử dụng cụm từ “Vùng đồng bào dân tộc thiểu số” trong các cụm từ “Vùng dân tộc”, “Vùng đồng bào dân tộc”, “Vùng dân tộc và miền núi” hoặc “Vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới”. Vùng đồng bào dân tộc thiểu số, được hiểu một cách tổng quát chung là vùng các dân tộc sinh sống ở miền núi, đồng bằng, miền biển, biên giới (kể cả hải đảo) và vùng sâu, vùng xa. Để nhấn mạnh rõ hơn tính chất và trình độ phát triển còn khó khăn, có thể thêm cụm từ “Vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn”, song nên thống nhất chung là “Vùng đồng bào dân tộc thiểu số”.

- Sắp xếp các mệnh đề, các cụm từ để thể hiện rõ: Những vấn đề có tính nguyên tắc của đường lối, chủ trương, chính sách dân tộc, “Đoàn kết các dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng” và “Chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc cực đoan và kỳ thị, chia rẽ dân tộc; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”. Tiếp theo là mục tiêu của chủ trương, chính sách dân tộc “Cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”. Nội dung cơ bản của chính sách dân tộc là “Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng tiến bộ”. Sau cùng là những vấn đề, lĩnh vực cụ thể về phát triển kinh tế; về quy hoạch vùng gắn với an ninh, quốc phòng; về văn hoá và nâng cao trình độ dân trí; về công tác cán bộ; về hệ thống chính trị ở cơ sở; về công tác dân vận.

Từ những ý kiến trên, chúng tôi đề nghị sửa lại như sau:

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng tiến bộ; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc cực đoan và kỳ thị, chia rẽ dân tộc; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực hiện tốt chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Quy hoạch, sắp xếp lại dân cư, làm tốt công tác định canh định cư và xây dựng vùng kinh tế mới, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm an ninh, quốc phòng. Nâng cao trình độ dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, tiếng nói, chữ viết và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Thực hiện chính sách ưu tiên về đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ, trí thức và phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong cộng đồng; củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Làm tốt công tác dân vận theo phương châm “chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc” và phong cách “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm với dân”.

TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,787


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs