Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Một số doanh nhân Việt Nam tuổi Tuất

 23/01/2006

Những người sinh năm Tuất theo quan niệm dân gian thường được coi là thông minh, linh hoạt, mạnh mẽ, tài giỏi và thành đạt. Đối chiếu trong tiến trình lịch sử Việt Nam có khá nhiều người tuổi Tuất nổi tiếng có vai trò, ảnh hưởng đối với lịch sử dân tộc.

Lý Công Uẩn: Sinh năm Giáp Tuất -974, quê Bắc Ninh, vị vua đầu nhà Lý (hiệu là Thái Tổ). Nghị lực, thông minh, văn võ song toàn, ông được tiến cử vào quan trường, thăng đến chức Điện tiền Chỉ huy sứ, phụ trách quân cấm vệ. Nhà Tiền Lê suy yếu, năm 1009 Lê Ngọc Triều mất. Được sự ủng hộ rộng rãi của nhân dân và hậu thuẫn của quần thần ông được suy tôn lên ngôi năm 1010, khai sinh Vương triều Lý và cho rời Kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) về Đại La (Hà Nội), đổi tên thành Thăng Long. Ông còn thực thi cải cách mạnh mẽ công quyền, kinh tế, văn hoá, lễ nghi và chấn hưng Phật giáo…

Trần Quốc Tuấn: Sinh năm Bính Tuất 1226, quê Nam Định, danh tướng đời Trần, Anh hùng dân tộc, phong chức Tiết chế, thống lĩnh toàn bộ quân đội. Là thiên tài quân sự, ông từng lãnh đạo quân dân nhà Trần đánh bại 3 cuộc xâm lược của giặc Nguyên Mông-đế quốc mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ, bảo vệ vững chắc độc lập Tổ quốc. Ông cũng để lại nhiều bài học về đức độ, xử thế, dùng người và những tác phẩm chính luận, quân sự nổi tiếng: Hịch tướng sĩ, Binh thư yếu lược, Vạn Kiếp tông bí truyền thư….

Lê Tư Thành:
Sinh năm Nhâm Tuất 1442, quê Thanh Hoá, vị vua xuất sắc nhất thời Hậu Lê, hiệu Thánh Tông, Thông tuệ, phong nhã, tài đức vẹn toàn, được các cận thần đưa lên ngôi năm 18 tuổi. Với những cải cách toàn diện tiến bộ và phát triển vượt bậc về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giai đoạn ông cầm quyền (1460-1497) được coi là thời Hoàng Kim nhất của chế độ phong kiến Việt Nam. Ông còn là nhà thơ lớn, lập ra và là chủ soái hội (thơ) Tao Đàn danh tiếng và để lại nhiều tác phẩm có giá trị: Hồng Đức quốc âm thi tập, Cổ tân bách vị, Văn minh cổ suý, Xuân vân thi tập…

Đặng Chất: Sinh năm Nhâm Tuất 1622. quê Bắc Ninh, danh thần thời Lê Huy Tông. Nổi tiếng thông minh, hiếu học, đỗ tiến sỹ năm 1661, làm quan tới chức Tham tụng (Tể tướng) và từng nhiều lần đi sứ nước ngoài. Bản tính ngay thẳng, lối sống thanh liêm, cần kiệm của ông rất được sĩ phu đương thời trọng vọng.

Mạc Thiên Tứ: Sinh năm Bính Tuất 1706, quê Kiên Giang, danh sĩ, nhà doanh điền thời Chúa Nguyễn. Cương nghị, đa tài, nối nghiệp cha tận tuỵ phò giúp Chúa Nguyễn, được thăng tới chức Tổng binh Đại đô đốc và có công lớn trong việc thu phục nhân tâm, khẩn hoang lập ấp ở miền Tây Nam Bộ. Ông còn khai sinh hội thơ Chiêu Anh Các nổi tiếng và là tác giả của nhiều công trình giá trị về lịch sử, thơ ca, nghệ thuật, triết luận.

Nghiêm Võ Chiêu: Sinh năm Canh Tuất 1730, quê Hưng Yên, danh thần đời Lê Hiển Tông. Giỏi văn chương, giàu tri thức, năm 22 tuổi đỗ tiến sỹ, làm Đãi chế ở Viện Hàn lâm rồi thăng tới chức Thị lang. Ông rất được nể trọng bởi nổi tiếng hiền hiếu và thường dốc lòng giúp đỡ người nghèo.

Nguyễn Công Trứ: Sinh năm Canh Tuất 1850, quê Hà Tây, danh sĩ cận đại. Năm 1878 đỗ cử nhân, làm quan tại nhiều địa phương và chủ bút báo Đồng Văn, sau về triều giữ chức Thượng thư (Bộ trưởng) Bộ Công kiêm Phó tổng tài Quốc sử quán. Đóng góp nhiệt tình trong công cuộc chấn hưng, phát triển nền giáo dục nước nhà bằng việc biên soạn hệ thống sách giáo khoa mới, thay đổi phép học, cách thi cử. Ông nổi tiếng văn chương, bản tính nho nhã và là một nhà giáo có biệt tài.

Nguyễn Văn Cẩm: Sinh năm Giáp Tuất 1874, quê Thái Bình, nhân sĩ cận đại. Từ nhỏ đã cực kỳ thông tuệ, giỏi thơ phú, khiến vua Tự Đức khen ngợi, ban danh hiệu Kỳ Đồng (đứa bé kỳ lạ thông minh). Sẵn lòng yêu nước lại được ngưỡng mộ, 13 tuổi nhân dân tôn ông làm thủ lĩnh phong trào kháng Pháp. Giặc đàn áp, bắt đưa sang Algeria, cho vào học khoa lý hoá ở một trường trung học. Năm 1896 ông về nước gia nhập khởi nghĩa của Mạc Đình Phúc, trở thành “Quốc sư” cố vấn. Ông cũng liên kết với khởi nghĩa Yên Thế do Hoàng Hoa Thám lãnh đạo. Giặc phát hiện, bắt ông đem đầy chung thân tại quần đảo Polynesia trên Thái Bình Dương.

Bạch Thái Bưởi: Sinh năm Giáp Tuất 1874, quê Hà Tây, đại doanh nhân. Nhà nghèo, cha mất sớm, phải giúp mẹ kiếm sống bằng nghề bán hàng rong, sau được một nhà giàu nhận làm con nuôi, cho ăn học tử tế. Năm 21 tuổi làm thư ký cho một hãng buôn của Pháp, ít lâu, đứng ra kinh doanh, mở nhà in lớn tại Hà Nội. Năm 1909, bước vào lĩnh vực hàng hải, thương thuyền, trở thành đại gia nổi tiếng, được giới doanh nghiệp gọi là “Chúa sông miền Bắc”. Công ty ông có 30 tàu lớn nhỏ, chiếm lĩnh phần lớn thị phần buôn bán đường thuỷ Việt Nam, cạnh tranh cùng tư sản thương thuyền Pháp, Anh và Trung Quốc. Nghị lực cao, chí khí lớn, giỏi kinh doanh, lại giàu đức độ và lòng từ thiện, ông được coi là doanh nhân sáng giá trong lịch sử kinh tế nước nhà.

Nguyễn Thị Minh Khai: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Nghệ An, nhà hoạt động cách mạng, chiến sỹ cộng sản kiên trung. Thuở nhỏ vào học trường Cao Xuân Dục, năm 17 tuổi ra nhập đảng Tân Việt có chân trong Ban chấp hành Đảng bộ. Năm 1930 sang Trung Quốc làm việc tại Văn phòng Đông Phương, Bộ Quốc tế Cộng sản. Cùng năm này, bị mật thám Pháp bắt tại Hồng Kông, năm 1934 được trả tự do. Cuối năm đó, bà cùng Lê Hồng Phong được cử làm đại biểu chính thức đi dự Đại hội lần thứ VII Quốc tế Cộng sản tại Moskva. Sau đó, hai người kết hôn tại đây, rồi cùng vào học trường Đại học Đông Phương Stalin. Năm 1936, bà được phân về công tác tại Sài Gòn, tham gia Xứ uỷ Nam Kỳ và phụ trách Thành uỷ Sài Gòn-Chợ Lớn. Ngày 30/7/1940, bị địch bắt. Trong tù, bà vẫn bí mật liên lạc với tổ chức bên ngoài, tiếp tục lãnh đạo phong trào đấu tranh cách mạng và bị giặc xử bắn ngày 28/8/1941.

Tạ Quang Bửu: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Nghệ An, giáo sư toán, nhà hoạt động khoa học. Thuở nhỏ học tại Quảng Nam, Huế, tốt nghiệp giành học bổng du học Pháp, Anh. Uyên bác, nhiệt tình, ra trường về nước giảng dạy, chuyên tâm nghiên cứu toán lý thuyết và toán ứng dụng vào sinh học, vật lý, hoá học. Ông cũng hăng hái hoạt động chính trị, xã hội, tham gia lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược, trở thành Thứ trưởng Bộ quốc phòng. Sau năm 1954, phụ trách việc đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật với cương vị Hiệu trưởng trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp. Ông được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.

Nguyễn Tuân: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Hà Nội, nhà văn hiện đại. Đi nhiều, hiểu rộng, cộng tác đắc lực với hệ thống báo chí, sáng tác thể loại văn học đa dạng và sôi nổi tham gia hoạt động sân khấu điện ảnh. Cả con người, phong cách, tác phẩm đều toát lên những điều mới lạ, độc đáo, quý phái mà dân dã, dễ mến, dễ yêu. Ông từng là Tổng thư ký Hội văn học nghệ thuật Việt Nam và để lại những tác phẩm văn chương nổi tiếng: Vang bóng một thời, Chiếc lư đồng mắt cua, Tuỳ bút kháng chiến, Sông Đà…

Nguyễn Hữu Thọ: Sinh năm Canh Tuất 1910, quê Long An, luật sư, chính khách yêu nước. Sinh trưởng trong một gia đình công chức, năm 1921 ông được cha mẹ cho sang Pháp du học, tốt nghiệp cử nhân luật năm 1932. Năng động, mạnh mẽ, giàu chí tiến thủ, ông mở văn phòng luật sư và tích cực tham gia đấu tranh bảo vệ dân chủ, hoà bình, chống thực dân, đế quốc; từng nhiều lần lãnh đạo các cuộc biểu tình rầm rộ, bị địch bắt giam, tra tấn, tù đầy. Tháng 11/1954, ông bị chính quyền Diệm bắt nhưng sau đó được lực lượng cách mạng giải thoát ra vùng chiến khu. Năm 1961, ông được bầu giữ chức Chủ tịch Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 ông được giữ chức Phó Chủ tịch nước, từ năm 1980 làm Quyền Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cho đến lúc qua đời (1996). Góp công lớn cho phong trào cách mạng và dân chủ đất nước, ông được phong tặng nhiều danh hiệu cao quý.

Đỗ Nhuận: Sinh năm Nhâm Tuất 1922, quê Hải Dương, nhạc sĩ hiện đại. Thuở nhỏ sống tại Hà Nội, tự học âm nhạc và sớm sáng tác ca khúc. Sôi nổi, tự tin, nhiệt thành yêu nước, ông tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh từ trước cách mạng tháng Tám, sau đó, gia nhập quân đội, làm công tác văn nghệ, viết nhiều bài hát phục vụ kháng chiến, khơi dậy ý thức độc lập, kiên cường và niềm tự hoà dân tộc. Ông từng giữ chức Tổng thư ký Hội nhạc sỹ Việt Nam và để lại hơn 100 ca khúc bất hủ: Du kích sông Thao, Chiến thắng Điện Biên, Việt Nam quê hương tôi…

Trịnh Văn Tuyến

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Năm Tuất kể chuyện loài chó (01/2006)
  •  
  • Ngày xuân tìm hiểu về ăn uống sao cho hợp lý nhất (01/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,264,729


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.2 secs