Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 18/01/2006
Yếu tố tâm lý trong xây dựng và thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng dân tộc miền núi
Có rất nhiều yếu tố phải tính đến trong xây dựng và thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số của nước ta hiện nay như: yếu tố địa lý - khí hậu, môi trường, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng; yếu tố tâm lý của đồng bào dân tộc… Nếu không tính đầy đủ đến những yếu tố đó, thì chính sách của Đảng và Nhà nước được ban hành và thực hiện khó đi vào cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số.

Tâm lý của đồng bào dân tộc thiểu số, trước hết phản ánh nhu cầu của mỗi dân tộc. Nhu cầu của mỗi dân tộc là nền tảng tâm lý của họ. Trên cơ sở nhu cầu của mỗi dân tộc thiểu số và sự đáp ứng nhu cầu ấy đến mức nào, thì việc khơi dậy mọi tiềm năng của dân tộc đó sẽ đạt đến mức ấy. Bởi vì, nhu cầu của mỗi dân tộc thiểu số là nguồn gốc sâu xa của việc phát huy mọi khả năng tiềm tàng của mỗi dân tộc thiểu số đó.

Chính sách của Đảng và Nhà nước đối với một số vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở những thời điểm nhất định chưa đi vào cuộc sống, tức là chính sách đó chưa tạo được động lực cho sự phát triển, vì nó chưa đáp ứng được nhu cầu bức xúc của các dân tộc thiểu số vùng đó.

Tâm lý của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta vừa là sản phẩm của những yếu tố địa lý, khí hậu, môi trường, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, ngoại giao, an ninh, quốc phòng, đồng thời là động lực thúc đẩy việc xây dựng và thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước ta để khai thác những mặt thuận lợi, tích cực, tiến bộ và khắc phục hạn chế mặt tiêu cực, lạc hậu… nhằm phát huy mọi nguồn lực ở vùng này trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Sau gần 20 năm đổi mới đất nước, tuy với tốc độ tăng trưởng về kinh tế của nước ta khá cao so với nhiều nước trong khối ASEAN song do điểm xuất phát về kinh tế và xã hội của một nước nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng hàng nghìn năm phong kiến, hơn trăm năm chủ nghĩa thực dân và những cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực đế quốc đã để lại những hậu quả hết sức nặng nề cho quá trình phát triển đi lên, nhất là ở địa bàn dân tộc thiểu số và miền núi.

Vùng đồng bào dân tộc thiểu số do lịch sử để lại với nền kinh tế tự cung, tự cấp, mặc dù trong những năm đổi mới Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương phát triển kinh tế - xã hội ở vùng này, nhưng không thể một sớm một chiều giải quyết ngay được. Đồng bào 53 dân tộc thiểu số đều nhận rõ thực tế này.

Hiện nay, tâm lý chung của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta là mong muốn được Đảng và Nhà nước quan tâm hơn nữa việc phát triển kinh tế - xã hội vùng này, nhưng cần có sự tập trung, có trọng điểm.

Cần tập trung đầu tư có trọng điểm vào lĩnh vực nào, ở đâu là phải từ kết quả điều tra xã hội học về nhu cầu phát triển cụ thể. Đây không phải là một việc làm tuỳ tiện, cảm tính chủ quan, mà việc đầu tư tập trung, có trọng điểm đó cần phải được lựa chọn kỹ càng. Đầu tư vào cái gì và ở đâu thì đó phải là một “mắt xích” cơ bản, một “khâu” then chốt và khi đã thực hiện được nó thì phải tạo ra sự bứt phá, có sự biến đổi về chất trong phát triển. Nó sẽ làm cơ sở, làm bản lề cho sự phát triển các lĩnh vực khác và của cả vùng. Thí dụ vùng có nhiều tiềm năng kinh tế nhưng giao thông chưa phát triển thì ưu tiên số 1 là mở rộng giao thông. Đã xác định đúng trọng tâm, trọng điểm thì Đảng và Nhà nước cần huy động nhiều nguồn lực, nhiều dự án lớn mạnh về tài chính và cả những cán bộ có phẩm chất và tài năng để thực hiện.

Hiện nay, trên thực tế việc xây dựng và thực hiện chính sách kinh tế ở nhiều tỉnh miền núi của nước ta với tình trạng đầu tư còn nhỏ giọt, phân tán theo kiểu bình quân, cào bằng nên không tạo ra được sự chuyển biến về kinh tế - xã hội, không làm cho đồng bào dân tộc ở nơi trọng điểm đó cảm nhận được đổi đời thật sự. Với chương trình định canh, định cư ở nhiều tỉnh miền núi cũng bị chi phối bởi tâm lý bình quân và tâm lý cưỡng bức, cưỡng chế rất gò bó, trong khi đó thì tâm lý chung của đồng bào dân tộc thích sống quần tụ theo dòng họ và có sự thuận lợi trong sản xuất, chăn nuôi và sinh hoạt hàng ngày.

Tâm lý đồng bào dân tộc thiểu số thường đề cao tính cộng đồng. Nhờ tính cộng đồng này mà đã nhân lên sức mạnh trong việc chống lại sự tàn phá của thiên tai, phá hoại của thú rừng và kẻ xấu lén lút vào bản làm mất ổn định đời sống bình yên của đồng bào.

Tâm lý của đồng bào dân tộc chỉ tin vào những cái cụ thể, có sự chứng kiến bằng trực quan sinh động “trăm nghe không bằng một thấy”. Chính vì vậy, trên thực tế đồng bào thường làm theo những người làm việc có hiệu quả cụ thể, thiết thực. Cụ thể, thiết thực đó là cơ sở của niềm tin đối với họ. Chính vì vậy, niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số thường dễ bị chi phối bởi ấn tượng ban đầu, trong khi đó có những cán bộ tăng cường cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số uy tín, hạn chế lời nói và việc làm không thống nhất làm cho đồng bào không tin tưởng, không gửi gắm những tình cảm, nguyện vọng của mình. Điều đáng lo ngại là đồng bào từ không tin cán bộ dẫn đến không tin tưởng luôn cả Đảng và Nhà nước. Do dễ bị chi phối bởi ấn tượng ban đầu này mà nhiều kẻ xấu đã lợi dụng gây nên nhiều khó khăn trong quản lí xã hội ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta.

Để thực hiện được đúng ý nguyện của đồng bào dân tộc thiểu số ở nước ta, chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải có những giải pháp chủ yếu sau:

Một là, điều tra tổng thể nhu cầu phát triển kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện tại, từ đó xác định cần tập trung vào trọng điểm nào, ở đâu và phải xác định vai trò động lực, tính điển hình để nhân rộng. Việc phát triển kinh tế bền vững cần phù hợp với định hướng phát triển văn hoá, tâm lý ở những vùng này.

Hai là, cùng với việc quan tâm xây dựng nền tảng vật chất, phải quan tâm đến việc xây dựng và phát triển nền tảng tinh thần. Cần phải có chính sách ưu tiên phát triển giáo dục đối với con em đồng bào dân tộc thiểu số còn trong độ tuổi đi học, cần kiện toàn hệ thống các trường nội trú, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng hàng năm và dài hạn từ 3 đến 7, 8 năm; đồng thời có biện pháp đảm bảo về cơ sở vật chất, kinh phí đào tạo, đội ngũ giáo viên, nội dung chương trình đào tạo cho phù hợp đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đặt ra. Cần xây dựng các mô hình hoạt động văn hoá ở thôn bản, làm tốt công tác sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá của mỗi dân tộc thiểu số và đảm bảo sự giao thoa văn hoá của các dân tộc anh em sống trong vùng bằng nhiều hình thức và phương pháp phù hợp nhằm khơi dậy được bản sắc văn hoá dân tộc, khơi dậy niềm tự hào, tự tôn của mỗi dân tộc, qua đó để đồng bào cảm nhận đầy đủ những giá trị của cuộc sống hiện tại cần được bảo vệ, giữ gìn.

Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị ở các tỉnh, huyện, xã, thôn các tỉnh miền núi thật sự có uy tín, đặc biệt là cấp cơ sở, đội ngũ này cần thực hiện ba cùng: cùng ăn, cùng ở, cùng làm với đồng bào. Cán bộ có cùng ăn với nhân dân mới nắm được nhu cầu và nguyện vọng của dân, có cùng ở mới hiểu được tập quán của đồng bào, có cùng làm mới chuyển giao được kỹ thuật và hướng dẫn cách làm mới cho đồng bào. Để có một đội ngũ cán bộ có uy tín, cần phải bố trí xen kẽ cán bộ là người dân tộc Kinh với các dân tộc khác, qua đó để bồi dưỡng, đào tạo, bổ sung, hỗ trợ cho nhau. Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, việc bố trí cán bộ lãnh đạo chủ chốt của địa phương, đặc biệt là cơ sở cần tính toán cơ cấu thích hợp để nhiều cán bộ dân tộc thiểu số được tham gia. Cần có chính sách, chế độ đảm bảo về vật chất, động viên về tinh thần để thu hút được người có tài năng và tâm huyết lên công tác ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi.

TS. Lê Hữu Xanh
Học viện CTQG Hồ Chí Minh

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,882,427


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs