Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/01/2006
Phát huy thế mạnh địa bàn miền núi và lòng yêu nước của đồng bào dân tộc thiểu số trong sự nghiệp bảo vệ tổ quốc


Nữ tự vệ vùng cao

Thắng lợi vĩ đại của quân và dân ta trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng là thắng lợi của sức mạnh tổng hợp. Phát huy sức mạnh của toàn dân tộc “mỗi làng xã là một pháo đài, mỗi người dân là một chiến sĩ trên các mặt trận chiến đấu, sản xuất, công tác”, Đảng ta đã động viên và phát huy cao độ “thế mạnh của địa bàn, lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc ở miền núi” vào công cuộc kháng chiến.

Thực tiễn đã chứng minh rằng, địa bàn miền núi và lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc ở miền núi có vai trò hết sức to lớn, là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta trong chiến tranh giải phóng.

Trải qua 30 năm chiến tranh giải phóng (1945 - 1975), chúng ta vừa phát huy thế mạnh của địa bàn miền núi với lợi thế “rừng che bộ đội, rừng vây quân thù” vừa phát huy cao độ lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc ở miền núi trong việc xây dựng, bảo vệ căn cứ địa cách mạng của cả nước. Đặc biệt, đồng bào các dân tộc ở miền núi đã chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ, thiếu thốn, hi sinh để bảo vệ, nuôi dưỡng, đùm bọc, chở che cán bộ, bộ đội góp phần to lớn vào thắng lợi của dân tộc ta trong các cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay ÊĐê, Xơ Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác, đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt - tất cả dân tộc chúng ta phải đoàn kết chặt chẽ để giữ gìn non nước ta”, trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc đã xuất hiện nhiều tấm gương anh hùng là con em đồng bào các dân tộc thiểu số, với những tên tuổi đã trở thành niềm tự hào của cả dân tộc, như người thiếu niên dân tộc Tày Nông Văn Dền (Kim Đồng), Vừ A Dính (người Mông), anh hùng trẻ tuổi Kơ pa Kơ lông (người Gia Rai), Pi Năng Tắc (người Ra-Glai), anh hùng Núp (người Ba Na), hai chú cháu anh hùng Vai - Kan Lịch (người Pa Kô), v.v.

Việc phát huy cao độ thế mạnh của địa bàn, lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc ở miền núi trong chiến tranh giải phóng là kết quả của việc nhận thức sâu sắc và thực hiện nghiêm túc công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta. Kết quả đó được thể hiện ở việc nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của miền núi và lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc ở miền núi, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Về số người thì đồng bào miền núi chiếm 1 phần 5 tổng số nhân dân nước ta. Miền núi chiếm 2 phần 3 tổng số diện tích nước ta và có hơn 3000cây số biên giới. Tục ngữ ta có câu “Rừng vàng, biển bạc”, câu đó rất đúng. Miền núi có tài nguyên rất phong phú, có nhiều khả năng để mở mang nông nghiệp và công nghiệp. Những điểm đó nói rõ rằng miền núi có một vị trí cực kỳ quan trọng về kinh tế, chính trị và quốc phòng của nước ta. Đồng bào miền núi có truyền thống cần cù và dũng cảm. 

Trong thời kỳ cách mạng và kháng chiến, đồng bào miền núi đã có nhiều công trạng vẻ vang và oanh liệt”. Kết quả đó còn được thể hiện ở việc tổ chức thực hiện nghiêm túc công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Nhận thức rõ vị trí, vai trò to lớn của công tác dân tộc, nhất là công tác dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi, lớp lớp cán bộ của Đảng và Nhà nước đã đến với đồng bào, đồng cam, cộng khổ, sát cánh cùng với cán bộ và đồng bào các dân tộc tổ chức chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Để thực hiện tốt công tác dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc và miền núi, đội ngũ cán bộ có vai trò hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện công tác đó. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh thường nhắc nhở “Cán bộ châu nhà có hai bộ phận hợp thành: một bộ phận là cán bộ địa phương, một bộ phận là ở nơi khác đến và ở xuôi lên.
Cán bộ địa phương thường thường có tâm lý tự ti, cho mình là văn hoá kém, chính trị kém, không muốn làm cán bộ. Như thế là không đúng. Nếu như thế, không ai làm việc cho đồng bào cả, việc làm đây là do cán bộ địa phương phải làm lấy. Vì vậy cho nên còn kém thì phải học, phải tích cực học cách làm việc, tích cực học chuyên môn cho biết. Nếu vì kém mà không làm thì không được. 

Nhiều cái mình chưa biết, nhưng có quyết tâm học thì phải biết, nhất định biết. Biết là tiến bộ. Cán bộ xuôi lên không yên tâm công tác. Như thế là không đúng. Bác đã nói cán bộ là đầy tớ của nhân dân, chỗ nào nhân dân cần đến mình là mình phải đến, bất kỳ chỗ nào cũng là Tổ quốc, là đất nước, cũng là nơi công tác của cán bộ. Phải nhớ rằng Đảng, Chính phủ tin cậy vào cán bộ, nên nơi nào khó có cán bộ. Việc gì khó có cán bộ. Vì vậy cán bộ các nơi đến phải yên tâm, tích cực công tác, phải gương mẫu, phải đoàn kết chặt chẽ, giúp đỡ cán bộ địa phương được tốt. Vì vậy cán bộ địa phương cùng cán bộ nơi khác đến phải đoàn kết yêu thương nhau, làm gương cho nhân dân địa phương”.

Như vậy, có thể khẳng định rằng, việc phát huy tốt vai trò của địa bàn miền núi và đồng bào dân tộc trong chiến tranh giải phóng dân tộc là kết quả của việc nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi và việc phát huy vai trò to lớn của đội ngũ cán bộ các cấp trong việc tổ chức triển khai thực hiện công tác đó.

Hiện nay, sự nghiệp xây dựng thành công và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đang diễn ra trong bối cảnh mới. Cuộc đấu tranh giai cấp và đấu tranh dân tộc trên thế giới và trong khu vực tiếp tục diễn ra rất gay go, phức tạp. Vấn đề dân tộc đang và sẽ trở thành vấn đề có tính thời sự sâu sắc. Việc giải quyết không đúng đắn vấn đề dân tộc là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên tình trạng chia rẽ dân tộc, mất ổn định chính trị - xã hội ở một số nước trên thế giới.

Đối với nước ta, nhất là ở vùng dân tộc và miền núi, bên cạnh những khó khăn do lịch sử để lại, tình hình kinh tế, văn hoá, xã hội ở nhiều vùng dân tộc thiểu số miền núi còn kém phát triển, các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dụng những khó khăn, hạn chế của đồng bào, những yếu kém, sai sót của các cấp, các ngành trong nhận thức và tổ chức thực hiện công tác dân tộc ở vùng dân tộc, miền núi để kích động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Do đó, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc ở Việt Nam nói chung, vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc ở vùng dân tộc và miền núi nói riêng không chỉ là vấn đề chiến lược cơ bản lâu dài, mà còn là vấn đề đang được đặt ra một cách cấp thiết trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc đã đánh giá một cách toàn diện tình hình dân tộc thiểu số và công tác dân tộc trong thời gian qua, khẳng định quan điểm cơ bản “Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh, quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi”. Quan điểm cơ bản đó một lần nữa khẳng định sự nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc nói chung, công tác dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi của Đảng và Nhà nước ta nói riêng.

Để tổ chức triển khai thực hiện quan điểm cơ bản đó, góp phần đưa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác dân tộc vào cuộc sống, cần thực hiện tốt một số giải pháp cụ thể sau đây:
Một là, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của công tác dân tộc ở vùng đồng bào dân tộc miền núi, trên cơ sở đó, tăng cường trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, các cấp và nhân dân trong xây dựng, phát triển toàn diện vùng dân tộc và miền núi.

Phải làm cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, nhất là các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, đồng bào và các lực lượng vũ trang nhân dân trên địa bàn vùng dân tộc, miền núi nhận thức ngày càng sâu sắc hơn vị trí, vai trò, tầm quan trọng của địa bàn và lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc trong chiến tranh giải phóng, tiếp tục phát huy vị trí, vai trò to lớn đó vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở vùng dân tộc và miền núi hiện nay. Ra sức phát huy nội lực, phát huy sức mạnh tại chỗ, nhất là vị trí, địa bàn chiến lược quan trọng của Tổ quốc và tinh thần đoàn kết, cố kết các dân tộc trong xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh. Coi việc xây dựng các vùng dân tộc, miền núi có kinh tế phát triển, chính trị - xã hội ổn định, văn hoá phát triển tiến bộ, quốc phòng, an ninh được củng cố và tăng cường là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân ở vùng dân tộc miền núi để tích cực, chủ động xây dựng và phát triển, tránh thụ động, ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước.

Hai là, triển khai có hiệu quả các chủ trương, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh trên địa bàn vùng dân tộc, miền núi, nhất là phát huy vai trò của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, các ngành, các cấp và nhân dân trong tổ chức triển khai các chương trình, dự án có hiệu quả.
Cùng với việc khẳng định vị trí, vai trò, tầm quan trọng của địa bàn và lòng yêu nước của đồng bào các dân tộc, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở vùng dân tộc, miền núi và thực tiễn đã chứng minh rằng các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án được triển khai thực hiện tốt đã đem lại hiệu quả thiết thực trong việc phát triển toàn diện vùng dân tộc, miền núi. Để cho các chủ trương, chính sách, các chương trình, dự án đầu tư tiếp tục phát huy hiệu quả cần tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, tăng cường hiệu lực quản lí của chính quyền, của các ban, ngành từ Trung ương đến cơ sở, phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân, thực hiện tốt phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong quá trình tổ chức triển khai các chương trình, dự án đầu tư phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở vùng đồng bào dân tộc miền núi.

Ba là, quan tâm bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực, nhất là chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số trong việc xây dựng địa bàn và phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc miền núi trong phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh.

Mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng và phát triển toàn diện vùng dân tộc, miền núi chỉ được phát huy có hiệu quả khi biết phát huy tốt sức mạnh “nội lực” của chính địa bàn và của đồng bào các dân tộc, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp, cộng với việc tranh thủ sự giúp đỡ của “ngoại lực”, của các cơ quan ban, ngành và nhân dân các địa bàn khác. Vì vậy, việc chăm lo bồi dưỡng, phát triển nguồn lực tại chỗ cả con người, nhất là đội ngũ cán bộ các cấp và cơ sở vật chất kỹ thuật là điều kiện hết sức quan trọng đảm bảo sự phát triển toàn diện và vững chắc vùng dân tộc, miền núi. Vì vậy, cần quan tâm chăm lo phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của các tầng lớp nhân dân ở vùng dân tộc, miền núi. Đặc biệt, hơn ai hết, đội ngũ cán bộ các cấp ở vùng dân tộc, miền núi là những người có điều kiện hiểu biết dân, hiểu biết đặc điểm địa bàn hoạt động nhất. Vì vậy, quan tâm chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp ở vùng dân tộc, miền núi là một trong những vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với việc phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh ở địa bàn dân tộc, miền núi. Theo đó, cần có những chủ trương, chính sách cụ thể trong việc quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và có chính sách đãi ngộ phù hợp làm cho đội ngũ cán bộ miền xuôi lên công tác ở miền núi, nhất là đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số để họ phát huy tốt vai trò của mình trong việc góp phần xây dựng địa bàn miền núi và phát huy vai trò của đồng bào các dân tộc trong công cuộc xây dựng và phát triển vùng dân tộc và miền núi, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trên địa bàn chiến lược quan trọng.

PGS.TS. Nguyễn Vĩnh Thắng
Viện Trưởng - Viện KHKT-NV Quân Sự

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 59,884,463


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs