Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 18/01/2006
Chương trình 135 tạo ra điều kiện phát triển mang tính cơ bản ở các xã đặc biệt khó khăn

Chương trình Phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc, miền núi, biên giới ở vùng sâu, vùng xa gọi tắt là Chương trình 135 thực hiện đến nay đã được 7 năm theo Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg ngày 31/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ. Đến năm 2005, Chương trình 135 được thực hiện ở 2.410 xã của 52 tỉnh, trong đó có 1.938 xã thuộc khu vực III, 389 xã biên giới, 83 xã an toàn khu trong kháng chiến.

Mục tiêu tổng quát của chương trình là “Nâng cao nhanh đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa, tạo điều kiện để đưa nông thôn các vùng này ra khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, chậm phát triển, hoà nhập vào phát triển chung của cả nước, góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng”.

Nội dung và nhiệm vụ của chương trình gồm: Quy hoạch và bố trí lại dân cư ở những nơi cần thiết. Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông lâm nghiệp gắn với chế biến, tiêu thụ sản phẩm. Phát triển cơ sở hạ tầng nông thôn phù hợp với quy hoạch sản xuất và bố trí dân cư. Quy hoạch và xây dựng các trung tâm cụm xã, ưu tiên đầu tư xây dựng các công trình về y tế, giáo dục, dịch vụ thương mại, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, phát thanh truyền hình. Đào tạo cán bộ bản, làng, phum sóc.

Năm nhiệm vụ của chương trình được thiết kế thành 5 dự án thành phần: Xây dựng công trình hạ tầng xã đặc biệt khó khăn, xây dựng Trung tâm cụm xã, hỗ trợ sản xuất gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, quy hoạch sắp xếp lại dân cư nơi cần thiết và đào tạo cán bộ cơ sở. Ngoài 5 dự án thành phần, chương trình còn có một số chính sách đặc thù cho các xã Chương trình 135 như chính sách ưu đãi tín dụng, ưu tiên về giáo dục, y tế, văn hoá…

Năm 2000, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 138/2000/QGG-TTg ngày 29/11/2000 Hợp nhất dự án định canh định cư, Chương trình hỗ trợ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, Chương trình xây dựng Trung tâm cụm xã miền núi, vùng cao vào Chương trình 135.

Nguồn vốn thực hiện chương trình gồm: Vốn Ngân sách Trung ương, từ 1999 đến 2005 là 9.142,2 tỷ đồng. Vốn Ngân sách địa phương thực hiện 2 dự án Xây dựng cơ sở hạ tầng và Trung tâm cụm xã là 527 tỷ đồng. Vốn huy động từ các Tổng Công ty, các địa phương có điều kiện giúp đỡ, các Bộ, ngành và Quỹ người nghèo từ năm 1999 - 2004 là 509 tỷ đồng. Vốn tham gia đóng góp của người dân bằng các hình thức tham gia lao động xây dựng công trình, khai thác vật liệu sẵn có ở địa phương, hoặc tài sản, hoa màu, đất đai bị mất khi xây dựng công trình.

Phần lớn nguồn lực của chương trình được dành cho dự án cơ sở hạ tầng và Trung tâm cụm xã, chiếm tới 97% trong giai đoạn 1999 - 2000 và giảm xuống 94% giai đoạn 2001 - 2005. Dự án phát triển sản xuất chỉ được đầu tư 2 - 4%, dự án đào tạo cán bộ khoảng 1% nguồn lực.

Ngoài nguồn lực bố trí riêng, chương trình được thực hiện lồng ghép bằng các chính sách, chương trình, dự án trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn như: Quyết định 168/2001/QĐ-TTg, Quyết định 173/2001/QĐ-TTg, Quyết định 186/2001/QĐ-TTg về định hướng kế hoạch phát triển các vùng: Tây Nguyên, đồng bằng sông Cửu Long và 6 tỉnh đặc biệt khó khăn miền núi phía Bắc. Chương trình trồng 5 triệu ha rừng, các chương trình mục tiêu quốc gia về giáo dục, y tế, nước sạch…; các chính sách như trợ giá trợ cước, cấp không thu tiền báo và tạp chí, hỗ trợ hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. Các dự án bằng nguồn vốn ODA của WB, ADB, IFAD…

Về tổ chức thực hiện chương trình: Thành lập Ban chỉ đạo điều hành từ Trung ương đến địa phương. Ban chỉ đạo chương trình Trung ương do một đồng chí Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban, thành viên Ban chỉ đạo là các Bộ, ngành liên quan. Uỷ ban Dân tộc là cơ quan Thường trực của chương trình. Các địa phương do một cán bộ chủ chốt của chính quyền làm Trưởng ban chỉ đạo chương trình và có các cơ quan chức năng giúp tổ chức thực hiện chương trình. Việc hình thành hệ thống chỉ đạo chương trình thống nhất từ Trung ương đến địa phương và theo cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ban, ngành đã tạo ra mối liên hệ chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất trong điều hành chương trình.

Sau 7 năm thực hiện, Chương trình 135 đã góp phần quan trọng làm thay đổi cơ bản diện mạo nông thôn, miền núi. Chương trình đã xây dựng được trên 25.000 công trình hạ tầng và 498 trung tâm cụm xã; đã đưa vào sử dụng trên 20.000 công trình thiết yếu các loại và trên 200 trung tâm cụm xã. Hiện nay đã có trên 70% số xã đã xây dựng được 5 hạng mục công trình thiết yếu: Đường giao thông, hệ thống điện, trường học, thuỷ lợi nhỏ và trạm y tế; 56% số xã đã đầu tư xây dựng đủ 8 hạng mục công trình thiết yếu. Trên các địa bàn thụ hưởng Chương trình 135, 86% xã có trường tiểu học, 73% xã có trường trung học cơ sở kiên cố; 96% xã có trạm y tế đảm bảo phục vụ khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho người dân; 74% xã có trạm bưu điện văn hoá xã; 61% xã có trạm truyền thanh; 44% xã có chợ. Đã có thêm 500 xã có đường ô tô đến trung tâm xã, 28 tỉnh trong chương trình đã đạt 100% xã có đường ô tô đến trung tâm, tỷ lệ đường giao thông cơ giới và dân sinh đến trung tâm xã đạt 97,42% tăng 62,42% so với trước năm 1998.

Chương trình 135 đã xây dựng được hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn quan trọng, đây là lực lượng vật chất to lớn làm thay đổi bộ mặt các xã đặc biệt khó khăn, góp phần cải thiện đời sống, nâng cao thu nhập, xoá đói giảm nghèo và tạo tiền đề công nghiệp hoá, hiện đại hoá vùng dân tộc và miền núi.

Chương trình đã đóng góp quan trọng vào giảm tỷ lệ hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn. Nhờ đầu tư cho công tác thuỷ lợi, khai hoang tăng diện tích canh tác, đưa nhanh giống cây trồng, vật nuôi năng suất, chất lượng cao dần dần thay thế cho những tập quán sản xuất lạc hậu phụ thuộc vào thiên nhiên đã giúp cho các xã đặc biệt khó khăn ổn định lương thực và nâng mức bình quân lương thực tự sản xuất từ 286 kg/người/năm của năm 1998 lên 320 kg/người/năm vào năm 2004, nhiều địa phương đạt đến 500 kg/người/năm.

Từ thực tế phát triển sản xuất, đã hình thành một số vùng kinh tế hàng hoá, ngày càng có nhiều hộ làm ăn giỏi, mô hình sản xuất kinh doanh có hiệu quả trên địa bàn. Trên địa bàn chương trình đã cơ bản không còn hộ đói kinh niên, tốc độ giảm nghèo khá nhanh, bình quân mỗi năm giảm 4-5% hộ nghèo (tỷ lệ hộ đói nghèo bình quân trên địa bàn trước khi có chương trình gần 60%, đến năm 2005 còn 20%), một số địa phương, tỷ lệ hộ nghèo giảm 7-8%/năm.

Chương trình 135 góp phần quan trọng cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc vùng đặc biệt khó khăn trên các lĩnh vực đời sống xây dựng: văn hoá, giáo dục, y tế và sức khoẻ cộng đồng… Chương trình đã tác động mạnh mẽ đến giáo dục, y tế, văn hoá vùng đồng bào dân tộc và miền núi. Nhà nước có chính sách tăng cường phát triển giáo dục, đầu tư bằng nhiều nguồn lực nên đến nay hầu hết các xã Chương trình 135 đều có trường tiểu học và trung học cơ sở kiên cố, đã tạo điều kiện thu hút trên 90% trẻ em trong độ tuổi đến trường. Nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, có nơi đã phổ cập trung học cơ sở. Đến nay hầu hết các xã đặc biệt khó khăn đã có trạm y tế, đa số thôn bản đã có y tế cộng đồng, góp phần ngăn chặn cơ bản được các dịch bệnh xã hội hiểm nghèo, nâng cao sức khoẻ và cải thiện đời sống cho đồng bào.
Các dự án quy hoạch sắp xếp dân cư và định canh định cư đã góp phần ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc sống phân tán trong điều kiện khó khăn khắc nghiệt, được tiếp cận các dịch vụ xã hội. Tỷ lệ đồng bào được tiếp cận với thông tin ngày càng tăng, chất lượng dịch vụ ngày một tốt hơn.

Nhờ kinh tế được cải thiện nên đời sống văn hoá đã được nâng cao một bước, phát triển phong phú hơn, văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy, cùng với chính sách trợ giá máy thu thanh và chương trình phủ sóng truyền hình vùng lõm, chính sách cấp không thu tiền báo chí… đã đưa số xã được thụ hưởng văn hoá thông tin tăng nhanh, chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước ngày càng đến được với đồng bào nhiều hơn, nhanh hơn.

Chương trình đã góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, đảm bảo quốc phòng trên các vùng chiến lược xung yếu của đất nước ở hầu hết các xã thuộc Chương trình 135 nằm trong địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới có điều kiện khó khăn phức tạp nhiều mặt.

Với nguyên tắc thực hiện dân chủ công khai rộng rãi, Chương trình đã thu hút sự tham gia của các tổ chức đoàn thể xã hội, đã phát huy cao vai trò của người dân trong các bước thực hiện, nâng cao năng lực của cộng đồng, năng lực cho đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở xã, bản, làng, phum, sóc, góp phần củng cố và hoàn thiện hệ thống chính trị cơ sở, giữ vững an ninh quốc phòng, đẩy lùi các tệ nạn xã hội và củng cố lòng tin của nhân dân.

Chương trình đã có vai trò quan trọng trong củng cố và tăng cường đoàn kết dân tộc, nâng cao niềm tin của nhân dân với Đảng và Nhà nước. Chương trình 135 đã được sự đồng tình ủng hộ, giúp đỡ, trách nhiệm của nhân dân cả nước, thu hút được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, xã hội từ Trung ương đến địa phương; kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn có bước phát triển, giảm dần sự gia tăng chênh lệch về khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền trong cả nước, góp phần thực hiện công bằng xã hội, tăng cường tình đoàn kết giữa các dân tộc, củng cố niềm tin của đồng bào các dân tộc vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Chương trình đã được các tổ chức quốc tế quan tâm và đánh giá cao. Nhiều tổ chức quốc tế đã nghiên cứu, đánh giá độc lập hiệu quả chương trình. Về cơ bản, Chương trình 135 được đánh giá là chương trình xoá đói giảm nghèo thành công nhất của Việt Nam; Chương trình có cách tiếp cận toàn diện phương pháp xác định đối tượng khá rõ ràng, trúng địa chỉ; thực hiện dân chủ công khai; việc quản lí, phân bổ vốn đầu tư minh bạch, phân cấp mạnh và đơn giản hoá thủ tục đầu tư. Do đánh giá cao về Chương trình, một số nước, tổ chức quốc tế đã tham gia ủng hộ nguồn lực hoặc tham gia thực hiện chương trình.

Đánh giá chung, sau 7 năm thực hiện (1999 - 2005), Chương trình 135 đã đạt được mục tiêu quan trọng trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội, bộ mặt nông thôn miền núi đã thay đổi căn bản, đặc biệt là hệ thống cơ sở hạ tầng đã được cải thiện rõ rệt, bước đầu đáp ứng yêu cầu phục vụ đời sống và thúc đẩy nền kinh tế nhiều thành phần từng bước phát triển, khoảng cách đói nghèo đã được thu hẹp giữa các vùng; trình độ dân trí đã được nâng lên… hàng trăm xã đã thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn và đang trên đà phát triển. Chương trình đã thực hiện tốt nguyên tắc dân chủ công khai, phát huy quyền tham gia của người dân trong giám sát chương trình; các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể đặc biệt quan tâm chỉ đạo tổ chức thực hiện tốt, nên chương trình ít bị thất thoát, ít tiêu cực nhất. Chương trình đã đầu tư đúng mục tiêu, đúng đối tượng trên địa bàn khó khăn nhất của cả nước, là chương trình hợp lòng dân, được nhân dân cả nước đồng tình ủng hộ, đồng bào các dân tộc ở các xã đặc biệt khó khăn thấy rõ trách nhiệm, nhiệt tình tham gia xây dựng các công trình để vươn lên tự thoát nghèo. Quá trình thực hiện chương trình đã nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cơ sở về trình độ quản lí Nhà nước, quản lí xã hội và xoá đói giảm nghèo. Chương trình có ý nghĩa to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội và an ninh quốc phòng, với tính nhân văn sâu sắc, phát huy được bản chất tốt đẹp của dân tộc, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước một cách bền vững. Chương trình thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với vùng đồng bào dân tộc, miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng.

TS.Trần Văn Thuật
Vụ Trưởng Vụ Chính sách Dân tộc

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,989


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs