Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 18/01/2006
Đề nghị Đảng và Nhà nước có chiến lược phát triển toàn diện bền vững địa bàn xung yếu dân tộc...

Vấn đề dân tộc, sắc tộc ở nhiều nước đang diễn biến hết sức phức tạp. Sự bùng nổ trào lưu ly khai dân tộc trên thế giới hiện nay, ngoài nguyên nhân bên trong (vấn đề lịch sử để lại, những mâu thuẫn nội tại...) còn là sự kích động, tiếp tay của các thế lực hiếu chiến phản động, sự can thiệp lật đổ, gây ảnh hưởng khu vực và phục vụ cho chiến lược “Diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết tương trợ giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch”. 

Nước ta 3/4 diện tích tự nhiên là miền núi, (gần 33 triệu ha). Địa hình đồi núi có trên địa phận của 44/64 tỉnh, thành phố trong cả nước. Đây là khu vực có nhiều khoáng sản và tài nguyên nhất là tài nguyên rừng, tài nguyên nước và tiềm năng thuỷ điện. Địa hình miền núi độ dốc lớn, hiểm trở, chia cắt thường xuyên xảy ra thiên tai. Trên diện tích rộng lớn ấy hiện có hơn 1/4 dân số (hơn 23 triệu người) sinh sống, trong số đó đa phần là đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong đấu tranh giải phóng dân tộc, miền núi là căn cứ cách mạng, kháng chiến. Đồng bào các dân tộc một lòng theo Đảng, không tiếc công sức, tiền của, tính mạng cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc.

Nhận rõ vị trí đặc biệt quan trọng cùng những khó khăn của địa bàn miền núi vùng dân tộc thiểu số, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm đầu tư phát triển, song do trong những năm chiến tranh, sức người, sức của của cả dân tộc được dồn cho công cuộc kháng chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Khẩu hiệu “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” là ước nguyện, là lẽ sống của cả dân tộc. Còn những năm sau hoà bình thống nhất, cùng hậu quả vô cùng nặng nề của chiến tranh để lại là việc chậm thay đổi cơ chế quản lý tập trung, quan liêu bao cấp không còn phù hợp đã làm cho đất nước lâm vào khủng hoảng kinh tế – xã hội trầm trọng, tiềm lực của quốc gia cạn kiệt không có điều kiện để chăm lo cho cuộc sống của nhân dân nhất là các đối tượng chính sách và đồng bào ở các vùng căn cứ địa cách mạng, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn dân tộc thiểu số và miền núi, đó là những thực tế khách quan. 

Bước vào thời kỳ đổi mới, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị (tháng 11/1989) và Quyết định 72 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về một số chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, vùng dân tộc thiểu số, sự đầu tư, hỗ trợ của Nhà nước cho vùng dân tộc và miền núi thông qua các chương trình phát triển kinh tế – xã hội ngày càng tăng; việc ban hành và thực hiện chính sách dân tộc ngày càng sát thực, hiệu quả. Với việc phân định miền núi thành 3 khu vực: Khu vực I - khu vực bước đầu phát triển; Khu vực II- khu vực tạm ổn định; Khu vực III - khu vực khó khăn, để có chính sách đầu tư sát với từng địa bàn, là điểm mốc quan trọng trong quản lý nhà nước đối với công tác dân tộc và chính sách dân tộc. Từ đó, hàng loạt chính sách mới dành cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được ban hành, như chính sách miễn giảm thuế, trợ giá, trợ cước; rồi các Quyết định của Chính phủ ưu tiên, đầu tư phát triển kinh tế – xã hội đối với các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các tỉnh Tây Nguyên, các tỉnh miền núi phía Bắc... nhất là Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới (Chương trình 135) và mới đây là chính sách hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo, đời sống khó khăn (Quyết định 134).

Sự quan tâm, đầu tư phát triển vùng dân tộc và miền núi ngày càng được ưu tiên trong đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước. Sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đã có tác động trực tiếp đến nhận thức và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị. Nhưng do nhiều nguyên nhân lịch sử để lại, do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt và do tiềm lực kinh tế của đất nước có hạn cùng cả những thiếu sót khuyết điểm trong tổ chức thực hiện nên đến nay vùng dân tộc và miền núi đang còn nhiều bất cập, cơ sở hạ tầng còn thấp kém, kinh tế - xã hội phát triển chậm, đời sống của đồng bào còn nhiều thiếu khó, tỷ lệ đói nghèo cao, trình độ dân trí, mặt bằng giáo dục thấp (Hiện còn 10/54 dân tộc chưa có người có trình độ Đại học, 5 dân tộc chưa có người có trình độ Trung cấp). Bản sắc văn hóa, nguy cơ mất văn hóa truyền thống đã đặt ra với một số dân tộc, không chỉ với những dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn. ở một số vùng vẫn còn di dân tự do và tôn giáo phát triển không bình thường. Thực tế ở nơi xung yếu và khó khăn nhất nước ấy đang tiềm ẩn những nhân tố bất ổn và tồn tại nhiều vấn đề cần được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Đó là những vấn đề cụ thể trong cuộc sống thường nhật của đồng bào như: đất ở, nhà ở, đất canh tác, nguồn nước cho sinh hoạt và sản xuất, rồi hệ thống đường liên thôn, trong bản nơi đồng bào đi lại ngày đêm, sớm tối rất thiết thực đối với cuộc sống và giao lưu hàng hóa, phát triển sản xuất; hay nơi sinh hoạt văn hóa của làng bản, nơi chữa bệnh của cộng đồng, tình trạng mù chữ, tái mù của người lớn, chỗ học của con trẻ, rồi cuộc sống giàu tâm linh, sự cả tin, cách tư duy cụ thể của đồng bào cùng phương thức sản xuất còn rất lạc hậu phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên... Theo đó là những bất cập, sự thiếu đồng bộ của một số chính sách, cùng những thiếu sót khuyết điểm trong triển khai thực hiện chính sách, chương trình, dự án bởi một số cán bộ đảng viên suy thoái về phẩm chất đạo đức gây ra, đã làm giảm lòng tin của đồng bào với Đảng, nó đang được kẻ thù tận dụng triệt để trong âm mưu “Diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ, kích động tư tưởng li khai, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc… Những thực tế trên đang thách thức sự phát triển ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 

Đảng ta, trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và trong Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc nhiều khoá, đều nhấn mạnh vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã xác định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng”. Và Đảng, Nhà nước ta đã xác định vùng dân tộc và miền núi có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và môi trường sinh thái. 

Vấn đề chiến lược, trên địa bàn chiến lược hơn bao giờ hết đòi phải có một chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Để làm cho địa bàn dân tộc và miền núi kinh tế – xã hội phát triển, đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào được nâng lên “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Để khoảng cách giữa miền núi và miền xuôi, giữa nông thôn và thành thị được thu hẹp như sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn. 

Chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc và miền núi phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác dân tộc trong thời kỳ mới, đó là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay của đất nước; các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, với đảm bảo an ninh quốc phòng; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số; giữ gìn và phát huy những giá trị bản sắc văn hoá truyền thống các dân tộc thiểu số. Ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế – xã hội, trước hết tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng thế mạnh của từng vùng đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Công tác dân tộc và thực hiện công tác dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị.

Chiến lược phát triển toàn diện, bền vững vùng dân tộc và miền núi phải cụ thể những mục tiêu, những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách mà Nghị quyết Trung ương 7 (Khoá IX) về công tác dân tộc đề ra. Đồng thời, từng bước giải quyết những mâu thuẫn, thách thức cùng những bất cập trên các mặt kinh tế, xã hội và môi trường trong quá trình phát triển. Đó là mâu thuẫn và bất cập giữa thực trạng kinh tế, tư duy kinh tế theo lối tự cung tự cấp, mang đậm tính công xã nông thôn của đồng bào các dân tộc thiểu số với nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá; phát triển kinh tế hàng hoá gắn với thị trường. Là sự chuyển đổi của các hoạt động kinh tế, những thói quen canh tác của “tư duy kinh tế truyền thống” và “nếp sống tộc người” cho phù hợp với yêu cầu và tính chất của nền kinh tế hàng hoá.

Về xã hội, từ những nguyên nhân khách quan của lịch sử; từ tình hình, đặc điểm địa bàn cư trú; từ điều kiện xã hội với tập quán và mức độ hưởng thụ sự đầu tư của nhà nước khác nhau và tình hình dân số, dân cư khác nhau… dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữa các tộc người thiểu số. Vấn đề là khắc phục sự phát triển chênh lệch giữa cộng đồng các tộc người đa số và cộng đồng các tộc người thiểu số; giữa các tộc người thiểu số với nhau; vấn đề đói nghèo, vấn đề được hưởng thụ và phát triển giáo dục, y tế, bảo tồn và phát triển văn hoá để đảm bảo sự bình đẳng giữa các cộng đồng tộc người ở nước ta trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Đặc biệt với vấn đề môi trường, hiện nay ở miền núi có hơn 23 triệu người đang sinh sống, trong đó đa phần là đồng bào các dân tộc thiểu số. Trong điều kiện địa hình hiểm trở, chia cắt, khí hậu thời tiết phức tạp, thường xuyên xảy ra lũ ống, lũ quét, lở đất… đã làm cho đời sống của đồng bào gặp không ít khó khăn. Bên cạnh đó là hậu quả của bom đạn, của nhiều triệu lít chất diệt cỏ và làm trụi lá cây mà kẻ thù dải xuống những cánh rừng trong những năm chiến tranh đã làm suy giảm độ che phủ, tính đa dạng sinh học của rừng, tác động đến môi trường sinh thái của vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo được thực hiện gần 20 năm đã giành được những thành tựu hết sức to lớn, nhất là về kinh tế song cũng đang phải đối mặt với những thách thức và hậu quả từ mặt trái của cơ chế thị trường. Những thách thức, hậu quả nhất là về văn hóa xã hội, đạo đức, lối sống và cả những bất ổn xảy ra ở vùng dân tộc và miền núi có nguyên nhân từ việc nhận thức không đầy đủ nội hàm của “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong “thực hiện kinh tế thị trường”. Đã chậm chỉ ra và làm rõ tính ưu việt của Nhà nước xã hội chủ nghĩa khi thực hiện cơ chế thị trường ở vùng đặc biệt khó khăn và đối với những đối tượng đặc biệt khó khăn.

Thực tiễn ở vùng dân tộc và miền núi, nơi sinh sống của những cộng đồng dân tộc thiểu số dân trí còn thấp, hình thức canh tác lạc hậu phụ thuộc nhiều vào tự nhiên chưa quen với phương thức sản xuất mới khi thực hiện kinh tế thị trường, đòi Nhà nước ta phải có những chính sách bảo trợ mang tính “bao cấp tích cực”, có những định chế thiết thực, phù hợp nhằm ngăn loại thật hữu hiệu những “công phá” của sự cạnh tranh giành, chiếm lợi nhuận vốn vô cảm của cơ chế thị trường để đồng bào tồn tại được và phát triển đi lên. 

Vùng dân tộc thiểu số và miền núi - địa bàn xung yếu, chiến lược của cả nước hiện tại cơ sở hạ tầng kém phát triển, dân trí thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo cao, các thế lực thù địch đã và đang triệt để khai thác, lợi dụng trong âm mưu “diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ. Từ thực tế đó đề nghị Đảng và Nhà nước sớm đề ra chiến lược phát triển toàn diện và bền vững vùng dân tộc và miền núi. Để từ chiến lược phát triển ấy đề ra những chính sách, những quyết định, những chương trình, dự án đầu tư thiết thực, phù hợp đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, vững chắc và đồng bộ của sự phát triển, từ đó tránh được sự chồng chéo, bị động trong quá trình xây dựng và ban hành các chính sách. Để kết quả cuối cùng là đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội ở vùng dân tộc và miền núi; đảm bảo cho đồng bào các dân tộc có cuộc sống vật chất, tinh thần cao hơn. Có như vậy, mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” mới trở thành hiện thực trong đời sống xã hội ở vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn dân tộc thiểu số và miền núi.

Nguyễn Phương Thảo

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,823


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs