Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 18/01/2006
Mấy vấn đề hoạch định chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay

Nước ta, với cộng đồng 54 thành phần dân tộc thống nhất trong đa dạng, trong đó có 53 dân tộc thiểu số cư trú xen kẽ và phân tán trên mọi vùng miền của đất nước, phần lớn sinh sống ở miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn. Trình độ phát triển và cơ cấu dân tộc không đồng đều. Bản sắc văn hoá mỗi dân tộc tạo nên sự đa dạng, phong phú của nền văn hiến Việt Nam.

Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài đồng thời cũng là vấn đề cấp bách hiện nay, đã được Đảng ta xác định ngay từ khi thành lập và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc, Đảng đã đề ra các chủ trương, chính sách dân tộc với mục tiêu cơ bản là “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ” giữa các dân tộc. Trải qua các thời kỳ cách mạng, công tác nghiên cứu hoạch định chính sách dân tộc ngày càng tăng cường một cách khoa học hơn, sát với thực tiễn hơn và góp phần quan trọng vào kết quả công tác dân tộc của Đảng và Nhà nước ta.

Chính sách dân tộc là cụ thể hoá quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề dân tộc, tác động trực tiếp đến các dân tộc, mối quan hệ giữa các dân tộc trong nước và quan hệ với các quốc gia dân tộc trên thế giới. Xét về mục tiêu, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta không có gì khác là khai thác mọi tiềm năng đất nước để phục vụ nhân dân, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống con người, giải phóng đồng bào các dân tộc thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, thực hiện “Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau cùng phát triển” giữa các dân tộc trong cộng đồng đại gia đình các dân tộc Việt Nam.

Thực hiện sự nghiệp đổi mới do Đảng ta khởi xướng, nhất là từ sau khi Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 27/11/1989 về “Một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi” đến nay, Chính phủ và các Bộ, ngành đã ban hành trên 200 văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực công tác dân tộc, cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước thành các chính sách, các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường khối đoàn kết các dân tộc, bảo tồn và phát huy bản sắc văn hoá các dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái, giữ vững quốc phòng an ninh biên giới, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc…
Để tham mưu, đề xuất và xây dựng chính sách dân tộc phù hợp với đặc điểm, đặc thù của mỗi vùng miền, của từng đối tượng cụ thể và để chính sách đề ra sớm đi vào cuộc sống; chúng ta đã tiến hành phân định địa bàn miền núi và vùng dân tộc theo điều kiện địa lý tự nhiên, theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Bước đầu tiên là phân định miền núi, vùng cao, vùng có miền núi và khu vực đồng bằng có dân tộc thiểu số sinh sống (21 tỉnh miền núi, vùng cao; 23 tỉnh có miền núi và 12 tỉnh đồng bằng có dân tộc thiểu số sinh sống, gồm 324 huyện với 4.453 xã, trong đó 4.201 xã miền núi, vùng cao và 252 xã đồng bằng có dân tộc thiểu số). Để có cơ sở xây dựng các chính sách cụ thể hơn, chúng ta đã tiếp tục phân chia địa bàn vùng dân tộc và miền núi thành 3 khu vực theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội, với 5 tiêu chí: Về đời sống, về cơ sở hạ tầng, về các yếu tố xã hội, về điều kiện sản xuất và về điều kiện tự nhiên địa bàn cư trú. Năm 1997 đã công bố: Khu vực I - bước đầu phát triển, gồm 930 xã; Khu vực tạm thời ổn định, gồm 1855 xã; Khu vực III - đặc biệt khó khăn gồm 1715 xã. Từ các xã đặc biệt khó khăn khu vực III đã hình thành và triển khai thực hiện Chương trình 135 thí điểm năm 1999 và chính thức từ năm 2000 đến nay.

Với việc lựa chọn các xã đặc biệt khó khăn, vùng nghèo nhất nước để tập trung đầu tư là sự đổi mới về nhận thức và phương pháp xây dựng chính sách dân tộc và tổ chức thực hiện công tác dân tộc. Nếu như trước đây (trước năm 1975) chúng ta thực hiện chính sách dân tộc (ví dụ như triển khai các dự án Định canh định cư) thường là theo lộ trình “Dễ làm trước, tiến dần đến những vùng khó khăn hơn” thì nay đổi lại, chọn nơi khó nhất, nghèo nhất để tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ trợ. Đổi mới cách làm như vậy đã tác động góp phần rất lớn trong việc hạn chế sự “dãn ra” khoảng cách chênh lệch, phân cực giàu nghèo trong xã hội hiện nay, mà cực nghèo phần lớn “rơi vào” vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, nhất là vùng cao, vùng sâu, vùng xa đặc biệt khó khăn. Đây là vấn đề cơ bản của việc đổi mới nội dung và phương thức công tác dân tộc mà hiện nay đang thực hiện.

Như vậy, định hướng của việc hoạch định chính sách dân tộc là tập trung chủ yếu ưu tiên đầu tư, hỗ trợ theo vùng (như Chương trình 135, như thực hiện các Quyết định 173 đối với vùng đồng bằng sông Cửu Long, Quyết định 168 đối với Tây Nguyên, Quyết định 186 đối với 6 tỉnh đặc biệt khó khăn ở miền núi phía Bắc, Quyết định 120 đối với các xã vùng biên giới Việt - Trung…) đã mang lại nhiều kết quả to lớn, nhất là về đầu tư kết cấu hạ tầng với phương châm mọi người dân thuộc mọi dân tộc, sinh sống tại các địa bàn đặc biệt khó khăn đều được hưởng thụ chính sách trong vùng của chương trình đó. Tuy nhiên, chính sách theo vùng cũng có những hạn chế, đối với những địa bàn giáp ranh (xã và thôn bản) với địa bàn các chương trình mục tiêu nói trên có những điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội tương tự nhưng không được hưởng chính sách, do không thuộc phạm vi chương trình, bởi theo địa giới hành chính. Hiện tượng này dẫn đến sự so bì, thắc mắc của người dân và kể cả cấp chính quyền địa phương, nếu không giải thích rõ và hiểu đúng, dễ bị kích động, xuyên tạc “bất bình đẳng, không công bằng” của các thế lực thù địch. Do đó, đối với chính sách hỗ trợ cho đồng bào dân tộc đặc biệt khó khăn, phải tính tới đơn vị thôn bản, tới từng hộ gia đình. Tuy nhiên, khi thực hiện các chính sách này cần tránh cách làm kiểu “bình quân, chia đều, cào bằng” hạn chế hiệu quả của chính sách hỗ trợ. Về chính sách đối với các dân tộc cụ thể, với một số dân tộc thiểu số quá ít người, rất đặc biệt khó khăn cần có trợ giúp trực tiếp của Nhà nước (như các dự án đối với những dân tộc mà dân số chỉ vài trăm người: Brâu, Rơmăm, Si La, Pu Péo, ơ Đu) là cần thiết, bởi các dân tộc đó đang có những dấu hiệu “mất dân tộc”. Họ “mất dân tộc” không phải bị chết do dịch bệnh, thiên tai, đói nghèo; trong nhiều năm qua bằng các chương trình, dự án đầu tư hỗ trợ, đời sống của họ được cải thiện nhiều “ăn no hơn, mặc ấm hơn, nhà cửa khá hơn” nhưng họ “mất dân tộc” vì “mất bản sắc văn hoá”. Tự mỗi dân tộc đó khó có thể giữ được phong tục, tập quán truyền thống, ngôn ngữ dân tộc, ý thức tự giác tộc người… theo các tiêu chí của một thành phần dân tộc trong cộng đồng các dân tộc nước ta. Hoặc cần có chủ trương chỉ đạo cụ thể đối với một số dân tộc đặc thù, nhạy cảm như các Chỉ thị về tăng cường công tác dân tộc đối với vùng đồng bào Khmer, đồng bào Chăm, đồng bào Hoa, đồng bào Mông là rất cần thiết. Tuy vậy, trên thực tế không thể không bao giờ đặt ra: 54 chính sách riêng biệt cho 54 dân tộc. Quá thiên lệch về chính sách cho từng dân tộc cụ thể, dễ dẫn đến khuynh hướng dân tộc cực đoan, cục bộ, phá vỡ khối đoàn kết thống nhất trong đa dạng của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Xử lý đúng đắn, hài hoà việc ưu tiên đầu tư hỗ trợ theo vùng và theo từng dân tộc cụ thể phải là nhận thức thống nhất, mang tính nguyên tắc trong quá trình hoạch định chính sách và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc.
Để tăng cường hơn nữa công tác quản lí Nhà nước về lĩnh vực dân tộc và nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu, hoạch định chính sách dân tộc, cần tập trung vào những nội dung trọng tâm:

- Hoàn thành việc soạn thảo Luật Dân tộc, thể chế hoá nội dung quản lí Nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc. Trong đó, những vấn đề cần xác định rõ: Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển vùng dân tộc, vấn đề xác nhận tộc danh, thành phần dân tộc, tên gọi dân tộc, ngôn ngữ dân tộc, công tác cán bộ đối với dân tộc thiểu số, thanh tra kiểm tra trong lĩnh vực công tác dân tộc…

- Phân công, phân cấp trong hệ thống tổ chức quản lí Nhà nước về công tác dân tộc, đồng thời tăng cường phối hợp giữa các Bộ, ban ngành với cơ quan dân tộc thông qua các chương trình phối hợp, các quy chế phối hợp liên ngành. Tiếp tục kiện toàn hệ thống bộ máy tổ chức cơ quan dân tộc từ Trung ương đến địa phương. Nâng cao trình độ năng lực chuyên môn cho đội ngũ cán bộ công tác dân tộc.

- Huy động nguồn lực và quản lí sử dụng các nguồn lực đầu tư phát triển vùng dân tộc và miền núi có hiệu quả. Đa dạng hoá nguồn tài chính cho đầu tư bằng chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư vào vùng dân tộc, tăng cường khai thác các nguồn vốn từ hợp tác quốc tế cho phát triển vùng dân tộc.

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách dân tộc, trên cơ sở tiếp tục rà soát, đánh giá các chính sách hiện hành, để sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành chính sách mới. Coi trọng công tác sơ kết, tổng kết thực tiễn, đánh giá các mô hình, rút ra các bài học kinh nghiệm, để điều chỉnh bổ sung và xây dựng chính sách dân tộc cụ thể, sát thực với yêu cầu cuộc sống của đồng bào các dân tộc.

TS. Bế Trường Thành
Phó Chủ nhiệm UBDT

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,672,923


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs