Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
 19/01/2006
Vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc trong đường lối đổi mới của Đảng ta


Đồng chí Sơn Song Sơn, Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Dân tộc thăm, tặng quà cho các nhà sư

Ngay từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta, Đảng do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, tổ chức và rèn luyện đã luôn luôn đánh giá đúng đắn vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc, đại đoàn kết dân tộc. Vì vậy, Đảng ta đã có những chính sách dân tộc phù hợp cho từng thời kỳ cách mạng Việt Nam.

Từ năm 1986 đến nay, cùng với những thành quả đạt được trong công tác tư tưởng, lý luận, vấn đề dân tộc và đại đoàn kết dân tộc cũng có bước phát triển thể hiện rõ trong nhận thức, lý luận và hoạt động thực tiễn liên quan đến việc thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới của Đảng ta.

Ngay từ Đại hội Đại biểu lần thứ nhất (tháng 3/1935), Đảng Cộng sản Việt Nam đã thông qua “Nghị quyết về công tác trong các dân tộc thiểu số”, xác định rõ: “Đại hội Đảng xem xét rằng lực lượng tranh đấu của các dân tộc thiếu số là một lực lượng lớn. Cuộc dân tộc giải phóng của họ là một bộ phận quan trọng trong cuộc cách mạng phản đế và điền địa ở Đông Dương, bộ phận của cách mạng thế giới”.

Tầm quan trọng, vị trí của vấn đề dân tộc, trước hết xuất phát từ tầm quan trọng, vị trí của các tộc người thiểu số - với tư cách là một bộ phận quan trọng hợp thành động lực cách mạng để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng đặt ra cho từng thời kỳ.

Trong hầu hết văn kiện các kỳ Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam qua các thời kỳ, đặc biệt các Văn kiện Đảng trong thời kỳ đổi mới đều đã đề cao, coi trọng vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc.
Tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đại hội mở đầu công cuộc đổi mới. Trong Văn kiện Đại hội, Đảng ta khẳng định: “Sự phát triển về mọi mặt của từng dân tộc đi liền với sự củng cố, phát triển của cộng đồng các dân tộc trên đất nước ta. Sự tăng cường tính cộng đồng, tính thống nhất là một quá trình hợp quy luật,nhưng tính cộng đồng, tính thống nhất không mâu thuẫn, không bài trừ tính đa dạng, tính độc đáo trong bản sắc của mỗi dân tộc”.

Văn kiện Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: “Vấn đề dân tộc có vị trí chiến lược lớn. Thực hiện “bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc trong sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”.
Vị trí, tầm quan trọng có ý nghĩa chiến lược của vấn đề dân tộc đặc biệt được chú ý coi trọng những năm gần đây, khi đời sống chính trị - xã hội diễn biến phức tạp, liên quan trực tiếp đến các cuộc xung đột dân tộc, xung đột tôn giáo, can thiệp lật đổ, khủng bố.

Tầm quan trọng, vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc được đặt trong mối quan hệ với việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.Nhận thức về tầm quan trọng, vị trí chiến lược của vấn đề dân tộc trong cách mạng Việt Nam qua các kỳ Đại hội Đảng và đặc biệt được làm sáng rõ trong những quan điểm Đại hội IX của Đảng và được chi tiết hoá trong Nghị quyết của Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khoá IX về công tác dân tộc.

Quan điểm của Đảng ta là: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cùng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam”.

Lần đầu tiên, trong văn kiện của Đảng vấn đề dân tộc được cắt nghĩa đầy đủ về tầm quan trọng, vị trí chiến lược: không chỉ là vấn đề chiến lược, cơ bản, lâu dài, mà còn là vấn đề thời sự, cấp bách của cách mạng Việt Nam.

Việt Nam có 54 dân tộc (tộc người). Trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 86% dân số, 53 dân tộc thiểu số có số lượng dân cư với khoảng 14% dân số. Tuy số lượng dân cư các dân tộc thiểu số không lớn nhưng đồng bào dân tộc thiểu số lại cư trú xen kẽ ở hầu khắp địa bàn của đất nước, chủ yếu là các địa bàn rừng núi, biên giới, hải đảo. Đây là những địa bàn có vị trí chiến lược trên tất cả các lĩnh vực của đời sống: về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh – quốc phòng.

Đặc biệt trong những năm gần đây, bên cạnh những thành quả đã đạt được trong công tác dân tộc, hàng loạt vấn đề liên quan đến quan hệ dân tộc trước hết là quan hệ giữa các dân tộc thiểu số và đa số, giữa miền núi và miền xuôi diễn ra mà Nghị quyết Trung ương Bảy khoá IX đã chỉ ra đó là: “Nhìn chung, kinh tế ở miền núi và các vùng dân tộc còn chậm phát triển, nhiều nơi còn lúng túng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tập quán canh tác còn lạc hậu. Chất lượng sản phẩm thấp, tiêu thụ rất khó khăn. Tình trạng du canh, du cư, di cư tự do còn diễn biến phức tạp. Một số hộ còn thiếu đất sản xuất. Kết cấu hạ tầng thấp kém. Kinh tế lâm nghiệp chuyển biến chậm, chính sách đối với lâm nghiệp chưa thật sự bảo đảm cho đồng bào sống và gắn bó với rừng. Nhiều nơi môi trường sinh thái tiếp tục bị suy thoái. ở nhiều vùng dân tộc và miền núi tỷ lệ đói nghèo còn cao so với bình quân chung của cả nước; khoảng cách chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa các dân tộc ngày càng tăng; chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp, việc đào tạo nghề chưa được quan tâm, công tác chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào ở vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn. Một số tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan có xu hướng phát triển. Một số bản sắc tốt đẹp trong văn hoá của các dân tộc thiểu số đang bị mai một. Mức hưởng thụ văn hoá của đồng bào còn thấp. Hệ thống chính trị cơ sở ở nhiều vùng dân tộc và miền núi còn yếu: trình độ của đội ngũ cán bộ còn thấp, công tác phát triển đảng chậm; cấp uỷ, chính quyền và các đoàn thể nhân dân ở nhiều nơi hoạt động chưa hiệu quả, không sát dân, không tập hợp được đồng bào. ở một số nơi tôn giáo phát triển không bình thường, trái pháp luật và truyền thống, phong tục, tập quán của nhân dân; một số nơi đồng bào bị các thế lực thù địch và kẻ xấu lợi dụng, kích động, lôi kéo vào các hoạt động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc”.

Trong điều kiện hiện nay, vấn đề dân tộc ở nước ta đòi hỏi phải được xem xét và giải quyết theo nhiều phương diện: đối nội và đối ngoại. Bởi vì, một mặt bản thân quan hệ dân tộc, do điều kiện lịch sử, kinh tế, văn hoá, xã hội đã rất phức tạp, mặt khác, do vấn đề dân tộc, quan hệ dân tộc là vấn đề rất nhạy cảm, liên quan đến tâm lý, tình cảm dân tộc, ý thức tự giác dân tộc, cho nên các thế lực thù địch luôn luôn lợi dụng những khó khăn về đời sống của đồng bào các dân tộc thiểu số, lợi dụng, khai thác những hạn chế, yếu kém của chúng ta trong thực hiện chính sách dân tộc để kích động phá hoại khối đại đoàn kết các dân tộc, gây mất ổn định chính trị, thực hiện “diễn biến hoà bình”.

Giải quyết vấn đề dân tộc đúng đắn, không chỉ thể hiện trong thái độ, trong đánh giá tầm quan trọng của nó mà phải được thể hiện trong chính sách dân tộc của Đảng ta.

Từ khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị, Đảng ta đã coi phát triển kinh tế - xã hội, nội dung kinh tế - xã hội của chính sách dân tộc là một nhu cầu bức thiết. Bởi vì: 

Chỉ có phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số mới tạo ra điều kiện để khai thác tốt tài nguyên thiên nhiên ở các vùng này. Khắc phục quan điểm lệch lạc: chỉ chú trọng khai thác tài nguyên mà xem nhẹ nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội. 

Thông qua việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội các vùng miền núi, mới thu hút được các nguồn vốn đầu tư (trong và ngoài nước) nhằm đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số. 

Việc đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh nhịp độ phát triển ở vùng dân tộc và miền núi là đòi hỏi bức xúc của việc quy hoạch phát triển kinh tế vùng, điều chỉnh dân số, dân cư, tạo điều kiện tốt cho định canh, định cư, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở miền núi và vùng dân tộc thiểu số. 

Phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, là nhu cầu gìn giữ an ninh, an toàn biên giới, hải đảo, ổn định chính trị, an toàn xã hội địa bàn xung yếu, phên dậu của đất nước. 

Việc bảo vệ môi trường sinh thái, ngăn chặn việc phá rừng, khai thác tài nguyên bừa bãi làm ảnh lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân mà trực tiếp là đồng bào các dân tộc thiểu số cũng đặt ra yêu cầu, đòi hỏi phải phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, khai thác và bảo vệ, nuôi dưỡng nguồn tài nguyên của đất nước.
Từ những quan điểm đúng đắn trên, sau khi có Nghị quyết 22 của Bộ Chính trị hàng loạt chương trình, dự án đã được thực hiện ở các vùng nông thôn miền núi, vùng dân tộc thiểu số như: Các chương trình trồng rừng 327, PAM, các chương trình xoá đói, giảm nghèo, hỗ trợ các xã đặc biệt khó khăn, Chương trình 135, chương trình xoá mù chữ phổ cập tiểu học, chương trình trợ giá, trợ cuớc v.v.. đã tạo ra bước chuyển biến tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội ở các vùng này.

Đánh giá những thành tựu cơ bản liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc trong thời kỳ đổi mới, Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) đã chỉ rõ: “Sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nhất là từ khi có Nghị quyết 22 – NQ/TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế - xã hội miền núi, tình hình miền núi và các vùng đồng bào dân tộc thiểu số đã có bước chuyển đổi quan trọng”.

Trong “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa ch” được thông qua tại Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam, lần đầu tiên trong lịch sử phát triển của Đảng, Đảng ta đã nêu lên 6 đặc trưng cơ bản của xã hội - xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Một trong những đặc trưng đó là việc giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc: “Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc phát triển đi lên con đường văn minh, tiến bộ, gắn bó mật thiết với sự phát triển của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tôn trọng lợi ích, truyền thống văn hoá, ngôn ngữ, tập quán, tín ngưỡng của các dân tộc. Chống tư tưởng dân tộc lớn và dân tộc hẹp hòi, kỳ thị và chia rẽ dân tộc”.
Theo tinh thần đó, Văn kiện Nghị quyết Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Từ nay đến năm 2000, bằng nhiều biện pháp tích cực và vững chắc, thực hiện cho được 3 mục tiêu chủ yếu: xoá được đói, giảm được nghèo, ổn định và cải thiện được đời sống, sức khoẻ của đồng bào các dân tộc, đồng bào vùng cao, vùng biên giới; xoá được mù chữ, nâng cao dân trí, tôn trọng và phát huy bản sắc văn hoá tốt đẹp của các dân tộc; xây dựng được cơ sở chính trị, đội ngũ cán bộ và đảng viên của các dân tộc ở các vùng, các cấp trong sạch và vững mạnh.

Ba mục tiêu chủ yếu mà Nghị quyết Đại hội VIII đề ra trong phát triển các vùng nông thôn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số cũng chính là những nội dung kinh tế - xã hội, văn hoá - xã hội và chính trị - xã hội của chính sách dân tộc của Đảng ta trong những năm cuối cùng của thết kỷ XX.

Khi nhân loại bước sang thế kỷ XXI với nhiều biến động to lớn, Đảng ta đã nêu lên những dự báo liên quan đến tình hình dân tộc, quan hệ dân tộc trên thế giới và tác động của chúng đối với tình hình dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam.

Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định: “Vấn đề dân tộc và đoàn kết các dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Thực hiện tốt chính sách bình đằng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển; xây dựng kết cầu hạ tầng kinh tế, xã hội, phát triển sản xuất hàng hoá, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, xoá đói giảm nghèo, mở mang dân trí, giữ gìn, làm giàu và phát huy bản sắc văn hoá và truyền thống tốt đẹp của các dân tộc; thực hiện công bằng xã hội giữa các dân tộc, giữa miền núi và miền xuôi, đặc biệt quan tâm vùng gặp nhiều khó khăn, vùng trước đây là căn cứ cách mạng và kháng chiến. Tích cực thực hiện chính sách ưu tiên trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ dân tộc thiểu số. Động viên, phát huy vai trò của những người tiêu biểu, có uy tín trong dân tộc và ở địa phương. Chống kỳ thị, chia rẽ dân tộc; chống tư tưởng dân tộc lớn, dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan; khắc phục tư tưởng tự ti, mặc cảm dân tộc”.

Những nội dung kinh tế - xã hội cụ thể của chính sách dân tộc được thể hiện trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. “Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010” đã chỉ ra những định hướng quan trọng để phát triển 6 vùng lớn của đất nước. Trong đó có 3 vùng thuộc miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số:
Vùng trung du và miền núi Bắc Bộ (Tây Bắc và Đông Bắc); vùng Tây Nguyên, địa bàn chiến lược quan trọng của cả nước về kinh tế - xã hội và quốc phòng – an ninh; và vùng đồng bằng sông Cửu Long, vùng lúa và nông sản, thuỷ sản xuất khẩu lớn nhất cả nước.

Sau 2 năm thực hiện chính sách dân tộc theo tinh thần Đại hội IX của Đảng, một văn kiện đặc biệt quan trọng thể hiện đầy đủ và sâu sắc vấn đề dân tộc, chính sách dân tộc ra đời đó là Nghị quyết Hội nghị lần thứ Bảy Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) về công tác dân tộc. Đây là một Hội nghị chuyên đề của Ban chấp hành Trung ương Đảng thể hiện sự quan tâm sâu sắc, cụ thể, thiết thực của Đảng ta trong giải quyết vấn đề dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc trong tình hình, điều kiện mới.

Cùng với việc đánh giá những thành tựu cơ bản, những hạn chế, yếu kém liên quan đến thực hiện chính sách dân tộc, công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới; chỉ ra những nguyên nhân khách quan và chủ quan của những hạn chế, yếu kém, những nhận thức mới của Đảng thể hiện đầy đủ và sâu sắc trong 5 quan điểm cơ bản về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc đó là: Vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược cơ bản, lâu dài, đồng thời cùng là vấn đề cấp bách hiện nay của cách mạng Việt Nam. Các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển, cùng nhau phấn đấu thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Kiên quyết đấu tranh với mọi âm mưu chia rẽ dân tộc. Phát triển toàn diện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn vùng dân tộc và miền núi; gắn tăng trưởng kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tốt chính sách dân tộc; quan tâm phát triển, bồi dưỡng nguồn nhân lực; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số trong sự nghiệp phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam thống nhất. ưu tiên đầu tư phát triển kinh tế - xã hội các vùng dân tộc và miền núi, trước hết, tập trung vào phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng, xoá đói, giảm nghèo; khai thác có hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của từng vùng, đi đôi với bảo vệ bền vững môi trường sinh thái; phát huy nội lực, tinh thần tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc, đồng thời tăng cường sự quan tâm hỗ trợ của Trung ương và sự giúp đỡ của các địa phương trong cả nước. Công tác dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của toàn bộ hệ thống chính trị”. Đây là bước phát triển mới trong nhận thức, lý luận về vấn đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc của Đảng ta.

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 của Ban chấp hành Trung ương (khoá IX) cùng việc chỉ ra những nhiệm vụ chủ yếu và cấp bách phải tập trung thực hiện còn đề ra những giải pháp chủ yếu:

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của hệ thống chính trị, các cấp, các ngành và toàn xã hội về vị trí, nhiệm vụ của công tác dân tộc trong tình hình mới… 

Tiếp tục thực hiện tốt các chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; rà soát, điều chỉnh, bổ sung để hoàn chỉnh những chính sách đã có và nghiên cứu ban hàn những chính sách mới để đáp ứng yêu cầu phát triển các vùng dân tộc và nhiệm vụ công tác dân tộc trong giai đoạn mới. 

Huy động nhiều nguồn lực cho đầu tư phát triển, giúp đỡ đồng bào vùng dân tộc và miền núi. ưu tiên đầu tư cho xoá đói, giảm nghèo phát triển nhanh kinh tế - xã hội, giải quyết những khó khăn bức xúc của đồng bào vùng dân tộc và miền núi; trước hết tập trung cho các vùng đặc biệt khó khăn. Thực hiện nghiêm chỉnh việc công khai hoá các chính sách, chương trình, dự án, vốn đầu tư để đồng bào biết và tham gia quản lý, giám sát quá trình thực hiện. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ ở vùng dân tộc và miền núi.

Thực hiện tốt quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng cán bộ là người dân tộc thiểu số cho từng vùng, từng dân tộc. Trong những năm trước mắt cần tăng cường lực lượng cán bộ có năng lực, phẩm chất tốt đến công tác ở vùng dân tộc, nhất là các địa bàn xung yếu về chính trị, an ninh, quốc phòng; coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo thanh niên sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự làm nguồn cán bộ bổ sung cho cơ sở; nghiên cứu sửa đổi tiêu chuẩn tuyển dụng, bổ nhiệm và các cơ chế, chính sách đãi ngộ cán bộ công tác ở vùng dân tộc và miền núi…

Kiện toàn và chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức cơ quan làm công tác dân tộc từ Trung ương đến địa phương.
Tăng cường công tác vận động quần chúng trong việc bảo đảm thực hiện tốt chính sách dân tộc trong giai đoạn hiện nay.

Có chính sách động viên, bồi dưỡng, hướng dẫn và phát huy vai trò của những người có uy tín trong đồng bào dân tộc trong việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ở các địa bàn dân cư vùng dân tộc và miền núi.

Đổi mới nội dung và phương pháp công tác dân vận ở vùng đồng bào dân tộc; quán triệt phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, tế nhị, vững chắc; sử dụng nhiều phương thức phù hợp với đặc thù của từng dân tộc, từng địa phương…

Vấn đề dân tộc và xây dựng chính sách dân tộc là những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn bức xúc hiện nay ở nước ta. Phân tích quá trình phát triển nhận thức, lý luận của Đảng ta về vấn đề dân tộc và công tác dân tộc trong thời kỳ đổi mới khẳng định vị trí có ý nghĩa chiến lược vừa cơ bản lâu dài vừa cấp bách của công tác dân tộc hiện nay, mặt khác giúp chúng ta có quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể khi nghiên cứu, tổng kết quá trình thực hiện chính sách dân tộc ở Việt Nam qua từng thời kỳ cách mạng.

Sơn Song Sơn
Ủy viên Trung ương Đảng
Phó Chủ nhiệm Thường trực UBDT

[ Quay lại ]

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,673,010


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs