Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Miền núi, vùng cao với việc bảo vệ, phát triển rừng và thực hiện chính sách dân tộc

 17/04/2007

Đồng chí Đỗ Mười trồng cây lưu niệm tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Luật Bảo vệ và phát triển rừng được Quốc hội thông qua năm 1991 và sửa đổi năm 2004. Sau gần 15 năm thực hiện, việc bảo vệ và phát triển rừng đã đạt được một số thành tựu, kết quả bước đầu:

Giảm dần tình trạng suy thoái rừng, đi vào giai đoạn phục hồi vốn rừng, từng vùng đã có tăng trưởng; tổng diện tích rừng toàn quốc năm 1993 là 9.302.200 ha, năm 2004 là 12.402.248 ha. Diện tích rừng đã giao cho các chủ quản lý: Doanh nghiệp Nhà nước 3.394.052 ha, Ban Quản lý rừng đặc dụng 1.337.963ha, Ban Quản lý rừng phòng hộ 1.068.571ha, lực lượng vũ trang 95.605 ha, xí nghiệp liên doanh 25.647ha, hộ gia đình, tập thể 2.738.917ha. Nghề rừng ở nhiều nơi bước đầu thích ứng phương thức sản xuất hàng hoá theo cơ chế thị trường; đời sống của người trồng và bảo vệ rừng từng bước được cải thiện. Công tác bảo vệ và phát triển rừng được xã hội hoá, huy động nhiều nguồn lực tham gia phát triển vốn rừng, đóng góp tích cực cho phát triển kinh tế- xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái và giữ gìn an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và kết quả đã đạt được, cũng còn nhiều hạn chế: Phát triển rừng chưa thật sự vững chắc, chất lượng và hiệu quả rừng chưa cao, mức sinh khối thấp, độ che phủ của rừng chưa đủ bảo đảm an toàn nguồn nước. Công tác bảo vệ rừng còn nhiều yếu kém, vi phạm lâm luật còn khá phổ biến, thậm chí có nơi diễn ra nghiêm trọng tình trạng cháy rừng, đốt nương làm rẫy. ở nhiều nơi, rừng đang bị tàn phá cạn kiệt dẫn đến xói mòn, lở đất, lũ ống, lũ quét… gây hậu quả xấu về tài nguyên và môi trường sinh thái. Cũng có thể nói thêm rằng, công tác điều tra cơ bản, chất lượng quy hoạch còn nhiều hạn chế, cơ chế chính sách bảo vệ, phát triển rừng còn nhiều bất cập. Mức độ và hiệu quả đầu tư phát triển rừng còn thấp, sản phẩm từ rừng còn nghèo nàn, công nghiệp chế biến chưa phát triển, tiêu thụ lâm sản còn nhiều ách tắc, đời sống của người trồng và bảo vệ rừng còn rất nhiều khó khăn.

Trên địa bàn hơn 4.200 xã miền núi, vùng cao, với vài chục triệu người sinh sống, phần lớn là đồng bào các dân tộc thiểu số, gắn bó trực tiếp với rừng bằng những tập quán canh tác truyền thống cùng với cách thức khai thác rừng hiện nay. Làm gì và làm như thế nào để người dân miền núi có được nghề rừng (như các nghề trồng lúa, chăn nuôi, tiểu thủ công nghiệp…) sống được bằng nghề rừng và làm giàu được từ nghề rừng? Đó là câu hỏi lớn đặt ra cho việc phát triển ngành lâm nghiệp ổn định và bền vững. Nhìn từ góc độ công tác dân tộc và phát triển kinh tế-xã hội ở vùng dân tộc và miền núi, chúng tôi có vài ý kiến xin được bàn luận sau đây:

Nói về miền núi nước ta, với mục tiêu thực hiện chính sách dân tộc gắn với việc bảo vệ và phát triển rừng, trước hết phải nói đến vùng cao-bộ phận hết sức quan trọng của miền núi (gồm vùng cao núi đá và vùng cao núi đất) trải dài từ Đông Bắc sang Tây Bắc, miền Tây Trung Bộ và Tây Nguyên, dọc theo biên giới đường bộ với Trung Quốc, Lào và Campuchia. Với độ cao trên 600m so với mặt biển (quy định độ cao hiểu theo nghĩa tương đối, như vùng cao Hà Giang bình quân 900-1000m nhưng cũng có nơi dọc sông, khe suối chỉ có 150-200m; vùng cao Lào Cai bình quân 1200m nhưng có đỉnh Phan-xi-păng trên 3000m hoặc Tây Nguyên có độ cao trung bình 600-800m có đỉnh Kon-Kinh 1.748m nhưng vùng cao thuộc hạ lưu sông Ba chỉ cao 100-150m. Ngoài ra còn một số tiêu chí khác như đất lâm nghiệp trên 60%, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống…) có tổng diện tích trên 150 nghìn km2. Vùng cao nước ta có một không gian địa lý rộng lớn, chia cắt phức tạp về địa hình và điều kiện tự nhiên, tạo nên sự đa dạng của các tiểu vùng khí hậu và sinh thái, với những nguồn gen động thực vật quý hiếm; là nơi cung cấp những tài nguyên thiên nhiên phong phú; là vùng đầu nguồn sinh thuỷ; là vùng biên giới quốc gia-phên dậu của Tổ quốc. Vùng cao, với hơn 11 triệu người sinh sống, thuộc hầu hết các thành phần dân tộc Việt Nam, trong đó những dân tộc có dân số tương đối đông ở vùng cao phía Bắc là: Mông, Dao, KhơMú, Chứt, Tà Ôi… và Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Mơ Nông, Mạ, Xtiêng… ở vùng cao phía Nam. Đồng bào vùng cao nói chung cư trú phân tán, song từng dân tộc lại cư trú tương đối tập trung, mối dây cố kết cư dân vững chắc bằng quan hệ dòng tộc khá chặt chẽ, có những phong tục tập quán đặc biệt để ràng buộc các thành viên trong cộng đồng. Vai trò Già làng, Trưởng họ, Bà cô… rất lớn trong tổ chức đời sống và sản xuất, trong duy trì hay sửa đổi luật tục, là những người được suy tôn và đề cao trong cộng đồng. Các dân tộc ở vùng cao có nền văn hoá truyền thống đặc sắc, được bảo tồn và phát triển trong quá trình giao tiếp, giao lưu giữa các dân tộc trong vùng và trong cả nước, góp phần làm phong phú đa dạng nền văn hoá dân tộc Việt Nam. Điều kiện tự nhiên và xã hội vùng cao nước ta có nhiều thuận lợi cho việc phát triển, nếu như thế mạnh của từng vùng, từng tiểu vùng được khai thác hợp lý và được đầu tư hỗ trợ bằng các cơ chế, chính sách phù hợp.

Trái ngọt trên đất trung du Phú Thọ

Từ nhiều năm qua. Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều chủ trương, chính sách đối với miền núi, vùng cao, như Chỉ thị số 128-CT/TW ngày 24/2/1959 của Ban Bí thư Trung ương về đẩy mạnh hơn nữa việc thi hành chủ trương tăng cường công tác vùng cao, Nghị quyết số 71/NQ-TW ngày 22/2/1963 của Bộ Chính trị về vấn đề phát triển nông nghiệp ở miền núi: “Phát triển sản xuất ở vùng cao… trong thời gian trước mắt phải phát triển sản xuất lương thực để tự giải quyết và có dự trữ tại chỗ, phát triển mạnh chăn nuôi, phát triển nghề rừng và phát triển một số loại cây công nghiệp thích hợp vừa có giá trị kinh tế cao, vừa dễ bảo quản và chuyên chở, nhưng phải có trọng tâm cho từng vùng từng nơi một, và phải chú ý đến vấn đề tiêu thụ, chế biến, không nên vận động phát triển một cách tràn lan… Phải trên cơ sở giải quyết đúng phương hướng sản xuất và phương hướng kỹ thuật mà dần dần tổ chức việc định canh định cư từng bước theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, nhằm ổn định và cải thiện đời sống của đồng bào hiện còn du canh, giảm bớt được tình trạng đốt rừng và làm hỏng đất. Việc định canh chủ yếu là phải định canh tại chỗ; việc đưa đồng bào từ vùng cao xuống vùng thấp phải rất thận trọng và phải có sự chuẩn bị kỹ về nhiều mặt”(1). Tiếp sau đó, Chính phủ có Nghị quyết số 109/CP ngày 19/6/1973 về một số chính sách cụ thể đối với đồng bào dân tộc vùng cao.

Thực hiện Nghị quyết số 22/NQ-TW ngày 27/11/1989 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế-xã hội miền núi và Quyết định số 72/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) ngày 13/3/1990 về một số chủ trương, chính sách cụ thể phát triển kinh tế-xã hội miền núi. Từ thực trạng và yêu cầu nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng cao, Chủ tịch HĐBT (nay là Thủ tướng Chính phủ) đã ra Quyết định số 69/CT ngày 4/3/1992 về lập chương trình phát triển kinh tế-xã hội vùng cao phía Bắc, gọi tắt là “Chương trình tổng thể vùng cao” với nhiều chương trình cụ thể, trong đó có: Chương trình định canh định cư, giao đất giao rừng, trồng khoanh nuôi, bảo vệ rừng đầu nguồn và phủ xanh đất trống đồi núi trọc; chương trình giải quyết lương thực, phát triển chăn nuôi, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp và công nghiệp chế biến nông lâm sản, thực phẩm…

Bằng các chính sách được cụ thể hoá thành các chương trình, dự án phù hợp, sát thực với từng vùng, từng đối tượng, nhiều nơi ở miền núi, vùng cao từ chỗ thường phá rừng làm rẫy đến chuyển sang tu bổ, bảo vệ rừng và trồng rừng có kết quả, xuất hiện nhiều mô hình vườn rừng, đồi rừng, trang trại lâm nghiệp… từng bước hình thành vùng cây công nghiệp, cây ăn quả, dược liệu có sản phẩm hàng hoá… đã góp phần tích cực ổn định sản xuất và cuộc sống cho hơn 2 triệu người thuộc diện du canh du cư trước đây. ở vùng cao hiện nay đã có trên 30% số hộ có đời sống ổn định, thu nhập khá, nhà cửa khang trang, có phương tiện cơ giới để sản xuất và đi lại…

Điều đó chứng tỏ rằng: miền núi nói chung, vùng cao nói riêng có khả năng phát triển nghề từ rừng, sống được và làm giàu được bằng nghề rừng, xoá đi quan niệm cố hữu cho rằng miền núi vùng cao luôn đi liền với đói nghèo và lạc hậu, luôn gắn với đốt rừng phá rừng làm nương rẫy và du canh du cư (?). Để đồng bào các dân tộc ở miền núi, vùng cao có điều kiện làm tốt hơn nữa việc bảo vệ rừng, phát triển rừng gắn với thực hiện chính sách dân tộc, xin có vài ý kiến trao đổi như sau:

1. Cần nghiên cứu, rà soát quy hoạch phát triển lâm nghiệp, điều chỉnh hợp lý cơ cấu ba loại rừng (rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất) phù hợp với đặc điểm từng vùng, từng tiểu vùng. Trên cơ sở quy hoạch đã rà soát tính toán lại, với tầm nhìn dài hơn, không chỉ 5-10 năm, mà xa hơn tới 20-30 năm, thậm chí xác định được 50 năm nữa rừng Việt Nam sẽ như thế nào. Với những nội dung nhiệm vụ chính của ngành Lâm nghiệp nước ta hiện nay là: Quản lý rừng, bảo vệ rừng, phát triển rừng và sử dụng rừng, cần xây dựng chiến lược phát triển lâm nghiệp một cách toàn diện, làm cơ sở cho các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, đầu tư trang thiết bị, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng và ban hành cơ chế chính sách… Trong đó, chúng tôi cho rằng vấn đề hết sức quan trọng là tổ chức xây dựng nghề rừng, quản lý nghề rừng và các giải pháp thực hiện chủ trương xã hội hoá nghề rừng. Hiện nay, các thành phần xã hội tham gia nghề rừng ngày càng đa dạng, đông đảo, song chưa có đầy đủ biện pháp và chính sách cụ thể tạo điều kiện cho lực lượng này biết làm nghề rừng (theo nghĩa lâm nghiệp hàng hoá và lâm nghiệp bền vững). Có thể nói rằng hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với hàng triệu ha rừng và đất rừng đã giao, khoán còn rất hạn chế, còn nhiều diện tích rừng hoang hoá, trong lúc đó người dân miền núi vùng cao vẫn thiếu việc làm, đời sống còn rất khó khăn.

Từ 1,5 ha rừng, gia đình anh Nguyễn Văn Cửu ở khu 6, xã Ngọc Lập, huyện Yên Lập (Phó Thọ) có thu lãi trên 40 triệu đồng/năm

2. Cùng với việc củng cố hệ thống tổ chức quản lý nghề rừng, kiện toàn Ban Quản lý dự án 5 triệu ha rừng, bao gồm nhiệm vụ chỉ đạo Chương trình bảo vệ và phát triển rừng phù hợp với đặc điểm đặc thù của từng vùng, từng tiểu vùng. Đa dạng hoá hình thức tổ chức hoạt động của hệ thống khuyến lâm, hỗ trợ thiết thực cho việc trồng rừng, bảo vệ rừng và kinh doanh nghề rừng của nhân dân và các thành phần kinh tế khác. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, xác định cơ cấu giống cây trồng vật nuôi phù hợp với đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu và tập quán canh tác từng vùng, từng loại rừng. Nhân rộng các mô hình tiên tiến, có hiệu quả các trang trại lâm nghiệp, vườn rừng, đồi rừng…

3. Trên cơ sở quy hoạch lại cơ cấu ba loại rừng, xác định mục đích sử dụng đất rừng hợp lý có xét đến tính chất đa năng của rừng. Tạo điều kiện thuận lợi cho chủ rừng yên tâm đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng đất. Bảo đảm chính sách hưởng lợi đối với người trồng và bảo vệ rừng, tạo động lực mạnh mẽ để thực hiện xã hội hoá nghề rừng (các chính sách hỗ trợ phát triển rừng kinh tế; nghiên cứu điều chỉnh các định mức về thời gian và kinh phí bảo vệ khoanh nuôi tái sinh rừng; điều chỉnh các quy định về khai thác, tiêu thụ lâm sản phù hợp với từng loại rừng, bảo đảm để chủ rừng có thể sinh sống và làm giàu từ kinh tế rừng).

4. Đổi mới và cải cách thủ tục giao đất, giao rừng. Chuyển đất và rừng của những nông lâm trường sử dụng kém hiệu quả giao cho dân, thôn bản và các tổ chức kinh tế khác tham gia bảo vệ và phát triển rừng. Nghiên cứu việc giao rừng và đất rừng cho cộng đồng dân cư (làng bản) đối với vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, trong điều kiện ở những nơi kinh tế hộ gia đình chưa phát triển. Tạo điều kiện khuyến khích phát huy vai trò của những người có uy tín trong cộng đồng (già làng, trưởng dòng tộc), phát huy tác động tích cực của các luật tục, hương ước, quy ước của cộng đồng ở vùng dân tộc vào việc bảo vệ và phát triển rừng.

5. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách bảo vệ, phát triển rừng. Tăng nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước hàng năm, đồng thời huy động tổng hợp nhiều nguồn lực cho phát triển cơ sở hạ tầng miền núi, vùng cao. Phối hợp, lồng ghép các chương trình, dự án phát triển kinh tế-xã hội trên cùng địa bàn vùng dân tộc và miền núi (thu hút, kêu gọi các nguồn vốn bằng các dự án đầu tư phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng từ vốn ODA, FDI… khuyến khích doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế liên doanh, liên kết với dân để phát triển rừng bằng nhiều hình thức năng động linh hoạt như thuê đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của dân để trồng rừng nguyên liệu cho sản xuất công nghiệp, chế biến lâm sản, cung ứng giống, chuyển giao kỹ thuật… cùng với dân làm nghề rừng). Trước mắt, trong những năm tới cần tập trung giải pháp trên đây vào việc trồng mới một triệu ha rừng kết hợp với công tác định canh định cư trong kế hoạch từ nay đến năm 2010 của Dự án 5 triệu ha rừng. Bảo vệ và phát triển rừng phải được xem là nội dung hết sức quan trọng, trọng tâm của công tác dân tộc, thực hiện chính sách dân tộc đối với miền núi, vùng cao ở nước ta./. 

TS. Bế Trường Thành, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc


(1) Chính sách và pháp luật của Đảng, Nhà nước về dân tộc, NXB Văn hóa Dân tộc - Hà Nội, năm 2000, trang 108.

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Ông trưởng bản nói hay làm giỏi (01/2006)
  •  
  • Đăk Lăk xây dựng mới hơn 4.200 nhà ở cho các hộ dân tộc thiểu số nghèo (01/2006)
  •  
  • Việc làm nhỏ - ý nghĩa lớn (01/2006)
  •  
  • Niềm vui của người đảng viên dân tộc Dao (01/2006)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 64,287,063


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.1 secs