Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Chương trình nước sạch ở Hoà Bình: Đầu tư lớn - Hiệu quả nhỏ

 13/05/2009

Bể nước gần nhà anh Đảm đã lâu không sử dụng

Đến nay, chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường ở Hoà Bình đã xây dựng đào mới được 993 giếng, 157 bể chứa nước, 803 bể chứa nước khu vực, 159 hệ thống cấp nước tự chảy... đáp ứng cho gần 60% dân số có nhu cầu nước sinh hoạt. Nhưng hiệu quả sử dụng của các công trình này cần được xem lại...

Có bể cũng như không

Chúng tôi đến nhà bà Bùi Thị Thoa, dân tộc Mường ở xóm Mới, xã Bình Thanh, huyện Cao Phong. Gần nhà bà có một bể nước sinh hoạt công cộng xây đã 5 năm nay nhưng chẳng ai sử dụng. Tuy trong bể có 1/3 nước nhưng đầy rác và que củi do trẻ con vứt xuống. Khi ngó vào chỉ có mấy chú nhái bén nhảy xung quanh. Bà Thoa cho biết: Nguồn nước phụ thuộc chủ yếu vào nước mưa. Mùa mưa nước cũng đủ cung cấp cho các gia đình sử dụng, nhưng mùa khô thì không có nước. Để có nước sinh hoạt thì gia đình tôi vẫn phải đào giếng cách nhà hơn 200m. Hầu hết các nhà trong xóm đều có bể chứa nước riêng. Họ không phụ thuộc vào bể nước do Nhà nước xây… Giá như tiền làm bể dùng để đào giếng ở nơi có mạch nước ngầm dồi dào thì tốt hơn làm một cái bể chỉ dùng được mấy tháng mùa mưa???

Chỉ cho chúng tôi xem một chiếc bể gần nhà, ông Bùi Văn Tranh, Trưởng xóm Mới cho biết: chiếc bể này lâu lắm rồi cũng không ai sử dụng. Không phải nó hỏng hay không có nước, mà là do nguồn nước trên khe chảy qua ruộng mà hệ thống lọc không lọc được hết tạp chất, làm “trong hoá” nước bùn ở ruộng. Mặt khác, người dân sợ nước ở các khe có thuốc sâu. Hiện tại, xóm Mới có 46 hộ và có 5 bể nước do Nhà nước xây, tuy nhiên bể số 5 ngay sau khi hoàn thiện đưa vào sử dụng được 2 tháng thì bị rạn nứt không chứa được nước vì bị thấm và rò rỉ.

Cũng như ở xóm Mới bể nước sinh hoạt của 8 hộ gia đình trong xóm Tráng chỉ cách nhà anh Bùi Văn Đảm 3m nằm ngay lưng chừng đồi. Anh cho hay: Bể nước này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn nước chảy ở khe đồi. Mỗi năm bể chỉ dùng để chứa nước được 3-4 tháng mùa mưa. Và hầu như mùa mưa ở xóm cũng không cần đến bể nước sinh hoạt tập trung. Người dân ở đây họ cần nhất là nước sinh hoạt vào mùa khô.

Ông Bùi Văn Thắng, Trưởng xóm Tráng cho biết: Hiện xóm có 95 hộ dân với 436 nhân khẩu. Năm 2003 theo dự án 747 Nhà nước xây dựng cho xóm 10 bể chứa nước và hệ thống ống dẫn nước từ các khe đồi, núi về. Tuy mới làm được 2 năm nhưng 1 bể đã bị rạn nứt và rò rỉ nước ra ngoài. Mặt khác, khi xây dựng họ tính toán đặt bể giữa trung tâm cụm dân cư và ở trên cao, nếu gia đình nào muốn có nước sinh hoạt về tận nhà thì phải đầu tư ống dẫn. Nhưng đến nay, hầu hết các bể nước trong xóm chỉ sử dụng được khi có mưa. Mùa khô không có nước các gia đình đành phải tìm chỗ trũng đào giếng và gánh về nhà. Tuy nhiên, người dân không muốn sử dụng nước ở các bể này do nước ở đây… bẩn. Nguyên nhân là do tình trạng phá rừng làm nương rẫy nhiều nên nguồn nước ở các khe đồi chảy về bị ô nhiễm.

Không chỉ ở xã Bình Thanh (Cao Phong) mà còn rất nhiều công trình nước sinh hoạt ở các huyện khác như Lạc Thuỷ, Đà Bắc, Tân Lạc… đều ở trong tình trạng trên.

Những công trình “vô chủ”

Việc xây dựng hoàn thành và bàn giao các công trình nuớc sạch cho địa phương rõ ràng cần phải xem lại. Theo đánh giá của các đơn vị đầu tư có đến 40% các công trình nước sạch của tỉnh sau khi bàn giao không phát huy hiệu quả. Nhiều công trình “thả lỏng” công tác quản lý bảo dưỡng, sửa chữa nên xuống cấp nhanh chóng như: Công trình nước sạch tại xóm Nhả, Hợp Thanh (Kỳ Sơn), do CCF đầu tư. Qua tìm hiểu thực tế các công trình nước sạch này chưa có ai quản lý, không quy định rõ ràng trách nhiệm và nghĩa vụ cụ thể. Trong khi đó ý thức của người dân bảo quản công trình này còn thấp. Nhiều nơi còn quan niệm đây là các công trình nước sạch do Nhà nước cho không nên mặc sức sử dụng. Một số bể nước ở xã Ngòi Hoa (Tân Lạc) khi mùa khô người dân còn thả lợn vào bể để… nuôi.

Hiện nay ở Hoà Bình việc duy trì, quản lý các công trình nước sạch còn nhiều bất cập, do chưa quy định cụ thể cấp ngành nào chịu trách nhiệm và chủ yếu dựa trên sự tự giác của người dân nên các công trình xuống cấp nhanh chóng và không đạt hiệu quả./.

Bài và ảnh: Việt Lâm

[ Quay lại ]
Các tin khác

 

 

THÔNG BÁO

Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

TÌM NHANH

TIN MỚI CẬP NHẬT

 
Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

 
9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

 
Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

 
Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

 
Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

THÔNG TIN NỘI BỘ

DB điện thoại nội bộ
Danh sách cán bộ UB
Thư viện điện tử
CD 60 năm công tác DT
CEMA trên đĩa CDROM
CD đào tạo CNTT - CT135
CEMA trên UNDP
Năm quốc tế về miền núi

THÀNH VIÊN
Người online:
Khách:
Thành viên:
Tổng số: 0
Số người truy cập: 61,642,963


Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
Execution time: 0.2 secs