Trang chủ  |  Tin mới  |  Hỏi đáp  |  Sơ đồ site  |  Hộp thư     TIẾNG VIỆT  |  ENGLISH
TỔNG QUAN
Hệ thống các cơ quan làm công tác dân tộc Hoạt động của UBDT Văn kiện của Đảng về Chính sách dân tộc Bác Hồ với đồng bào DT Đại biểu Quốc hội là người DTTS các khóa Các Dân tộc Việt Nam Ấn phẩm về lĩnh vực công tác dân tộc Văn bản về lĩnh vực Công tác dân tộc
TIN MỚI
Dân tộc Online Tin Hoạt động Chủ trương - Chính sách Thời sự - Chính trị Nghiên cứu - Trao đổi Kinh tế - Xã hội Y tế - Giáo dục Văn hoá - Thể thao Công nghệ - Môi trường Pháp luật Quốc tế
TÌM KIẾM

LIÊN KẾT

 
Na Rì phát huy thế mạnh nông nghiệp

 29/12/2005

Niềm vui được mùa

Na Rì là huyện vùng cao của tỉnh Bắc Kạn, có 21 xã đặc biệt khó khăn được thụ hưởng Chương trình 135 của Chính phủ gồm các dân tộc Nùng, Tày, Mông, Dao, Kinh, Sán Chay… cùng sinh sống.

Năm năm qua, thực hiện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Na Rì lần thứ XV, chính quyền và nhân dân trong huyện đã phát huy truyền thống đoàn kết, tự lực, tự cường, khắc phục khó khăn, thực hiện hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ đã đề ra. Chỉ tính riêng năm 2005, ở Na Rì tổng diện tích gieo trồng thực hiện được 7.547,886 ha, tăng 4,3% so với năm 2004. Cây lúa lai, ngô lai, lạc, đậu tương, khoai môn do Nhà nước hỗ trợ giống, vốn và kỹ thuật được đưa vào gieo trồng cho năng suất cao. Mô hình thu nhập 30 triệu đồng/ha/năm được triển khai thực hiện tại các xã, thị trấn với công thức luân canh từ 2 - 3 vụ/năm, …nâng hệ số sử dụng đất lên 1,8 lần. Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 21.939,7 tấn/năm, đạt 107,4% kế hoạch, tăng 14,8% so với năm 2004. Công tác chăm sóc rừng trồng năm thứ 1,2,3,4 của các dự án thực hiện đạt 100% kế hoạch giao, diện tích khoanh nuôi bảo vệ được quan tâm, bảo vệ tốt 9.567,38 ha. Triển khai kế hoạch trồng rừng năm 2006 là 450 ha. Ngoài việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản cũng được huyện quan tâm đầu tư. Hiện nay, toàn huyện Na Rì có 16.720 con trâu, 2788 con bò, 19.685 con lợn (trong đó lợn nái có 285 con). Điển hình, ở xã Lượng Thượng, 100% hộ đồng bào dân tộc Mông thôn Khuổi Nộc có phong trào chăn nuôi bò vỗ béo làm hàng hóa. Với cách nuôi nhốt chuồng, trồng cỏ voi, kết hợp với cây cỏ tự nhiên, bổ sung thức ăn tinh, thời gian nuôi từ 3- 5 tháng, trung bình cho thu nhập từ 600.000 đến 1.000.000đồng/tháng/con. Mô hình này được nhân rộng tại các xã trong huyện. Bên cạnh đó, diện tích nuôi trồng thủy sản thực hiện được 127,76 ha, trong đó diện tích ao nuôi là 125,16 ha, diện tích nuôi ở ruộng là 2,6 ha… Để bà con kịp thời nắm bắt khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất, chăn nuôi, huyện đã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức hàng trăm lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật, huấn luyện IPM... tới từng hộ dân. Song song với việc phát triển nông nghiệp - thế mạnh của huyện, việc phát triển các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ cũng được chú trọng. Tổng giá trị sản xuất tiểu thủ công nghiệp năm 2005 ước đạt 6,5 tỷ đồng, đạt 108,3% kế hoạch, tăng 30% so với cùng kỳ năm trước.

Nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân giao thương hàng hóa, năm năm qua, bằng nguồn vốn Chương trình 135, huyện đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng cơ sở, các công trình dân sinh gồm: 62 công trình giao thông, 18 công trình thủy lợi, 8 công trình nước sinh hoạt, 55 công trình trường học và các hạng mục, 15 công trình điện, 2 công trình chợ... được xây dựng với tổng vốn đầu tư trên 67 tỷ đồng. Khi đời sống được nâng lên, người dân đã tích cực tham gia vào các hoạt động xã hội ở địa phương. Đến nay, Na Rì đã hoàn thành tốt mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi ở 20/22 xã, thị trấn. Công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được quan tâm với 100% thôn bản có y tá , 100% trạm xá có thầy thuốc và được trang bị đầy đủ dụng cụ, thuốc thiết yếu. Hưởng ứng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, toàn huyện có 21 làng văn hoá cấp huyện, 37 hộ đạt gia đình văn hoá tiêu biểu từ 5 năm trở lên, và 100% bản làng cam kết xây dựng làng văn hoá…Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách đối với người có công, gia đình thương binh, liệt sĩ; giải quyết cho 175 lao động có việc làm thường xuyên. Từ sự phấn đấu vươn lên, huyện đã giảm tỷ lệ nghèo đói từ 54,36% năm 2004, xuống còn 52,06% năm 2005 (theo tiêu chí mới) từ 7.931 hộ xuống còn 4.129 hộ nghèo./. 

Bài và ảnh: Bằng Giang

[ Quay lại ]
Các tin khác
 
  • Đồng tâm, hợp lực thoát nghèo, làm giàu (12/2005)
  •  
  • Anh Thông Điệu người con của làng Chăm (12/2005)
  •  

     

    THÔNG BÁO

    Quyết định Ban hành Quy định công tác số hóa văn bản đi, đến của Ủy ban Dân tộc (Xem nội dung chi tiết tại đây)

    Thông báo về việc quản lý hộp thư điện tử của Ủy ban Dân tộc nhằm đảm bảo an ninh, an toàn thông tin. Nội dung chi tiết xem tại đây

    TÌM NHANH

    TIN MỚI CẬP NHẬT

     
    Hội nghị tham vấn ý kiến các Bộ, ngành vào dự thảo văn kiện Chương trình 135 giai đoạn III

     
    9 nhóm giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2013

     
    Hà Giang: Năm 2012 có 6.748 hộ thoát nghèo 

     
    Ngành Công tác Dân tộc: Dấu ấn năm 2012

     
    Thực trạng và một số giải pháp nhằm quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả  ở Tây Nguyên 

    THÔNG TIN NỘI BỘ

    DB điện thoại nội bộ
    Danh sách cán bộ UB
    Thư viện điện tử
    CD 60 năm công tác DT
    CEMA trên đĩa CDROM
    CD đào tạo CNTT - CT135
    CEMA trên UNDP
    Năm quốc tế về miền núi

    THÀNH VIÊN
    Người online:
    Khách:
    Thành viên:
    Tổng số: 0
    Số người truy cập: 61,643,031


    Cơ quan chủ quản : Uỷ ban Dân tộc. Giấy phép số : 455/GP-BC do Cục Báo chí - Bộ Văn hoá Thông tin cấp ngày 18/10/2004.
    Bản quyền thuộc Ủy ban Dân tộc. Địa chỉ : Số 80, Phan Đình Phùng, Ba Đình, Hà Nội. Điện thoại : 04.37333511.
    Khi đăng ký tài khoản người dùng trên website này, bạn đồng ý rằng bạn đã chấp nhận Chính sách đảm bảo an toàn thông tin cá nhân.
    Website xem tốt nhất ở trình duyệt IE 5 trở lên, màn hình có độ phân giải 800x600 & Flash Player 8.
    Phát triển dựa trên mã nguồn của phpNuke.
    Execution time: 0.3 secs